EHP và áp lực dịch bệnh: Hướng tiếp cận mới và toàn diện

[Người Nuôi Tôm] – Dịch bệnh trên tôm, đặc biệt là EHP, đang diễn biến ngày càng phức tạp và khó kiểm soát, tạo áp lực lớn lên người nuôi trong bối cảnh môi trường ao nuôi liên tục biến động. Theo các nhà khoa học, để giảm rủi ro và hướng tới nuôi tôm bền vững, cần chuyển từ tư duy “trị bệnh” sang phòng bệnh chủ động thông qua quản lý môi trường, con giống, dinh dưỡng và ứng dụng vi sinh ngay từ đầu vụ nuôi.

 

Đó cũng là những nội dung chính được các nhà khoa học, doanh nghiệp trình bày tại Hội nghị Khoa học thủy sản Đại học Cần Thơ diễn ra ngày 6/5, do Trường Thủy sản và Công ty Vemedim tổ chức.

Toàn cảnh hội thảo

 

Con tôm cần khỏe mạnh

Cả nhà khoa học lẫn doanh nghiệp tham gia hội nghị đều có cùng nhận định rằng, để tôm nuôi khỏe mạnh cần đảm bảo các yếu tố: nguồn nước tốt, con giống tốt và dinh dưỡng phù hợp. Việc xử lý nguồn nước cấp và quản lý chất lượng nước trong ao nuôi theo là rất quan trọng, có tính quyết định đến thành công của vụ nuôi. Theo GS. TS Trương Quốc Phú, Trường Thủy sản – Đại học Cần Thơ, để quản lý tốt chất lượng nguồn nước cần bắt đầu ngay từ nguồn nước cấp thông qua hệ thống lắng, lọc, khử trùng, gây màu nước, bổ sung chế phẩm vi sinh… Mục đích của công đoạn lắng lọc nhằm làm giảm các chất lơ lửng, phù sa, mật độ vi sinh có hại, nhất là vi khuẩn cũng như góp phần loại bỏ kim loại nặng, khí độc và tăng độ oxy hòa tan và tăng hiệu quả khử trùng nước ở công đoạn sau. Riêng việc bổ sung chế phẩm vi sinh nhằm giúp ổn định màu nước, gia tăng mật độ lợi khuẩn và ngăn ngừa vi khuẩn có hại. Trong quá trình nuôi, môi trường ao nuôi thường hay biến động do tác động từ các yếu tố bên ngoài lẫn bên trong, nên người nuôi cần thường xuyên kiểm tra để xử lý kịp các chỉ số môi trường cơ bản, như: pH, độ kiềm, hàm lượng khí độc, thức ăn dư thừa cũng như khử trùng định kỳ và bổ sung chế phẩm vi sinh.

Con giống tuy chỉ chiếm khoảng 10% chi phí nhưng lại quyết định đến 40% kết quả vụ nuôi. Điều đó cho thấy, bên cạnh yếu tố môi trường ao nuôi thì con giống có vai trò hết sức quan trọng. Hay nói một cách tổng quát, một ao nuôi được đánh giá là an toàn khi hội tụ đủ các yếu tố: đầu vào tốt (con giống, nguồn nước…) và an toàn sinh học tốt. Một con giống tốt không chỉ là nuôi có sống hay không, mà là con giống có tốc độ tăng trưởng nhanh và có sức chống chịu cao trước biến động môi trường, nhằm giúp giảm tỷ lệ hao hụt, tôm phát triển đồng đều, thời gian nuôi ngắn, từ đó giúp giảm FCR để giảm giá thành và tăng lợi nhuận cho người nuôi.

GS. TS Trương Quốc Phú, Trường Thủy sản – Đại học Cần Thơ

 

Dịch EHP diễn biến xấu, khó kiểm soát

Đối với vấn đề dịch bệnh, nhất là bệnh do EHP, ông Trình Trung Phi, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Việt Úc thông tin, nếu như trước đây, tôm nhiễm EHP phải sau 10-15 ngày mới phát hiện có bệnh phân trắng, nhưng gần đây chỉ sau 2-3 ngày nhiễm EHP, là có tôm có biểu hiện bệnh phân trắng. Để phát hiện tôm nhiễm EHP bằng phương pháp Realtime PCR hiện là rất khó, vì nó phụ thuộc rất nhiều vào người lấy mẫu, số lượng mẫu, kỹ thuật test…

Ông Trình Trung Phi, Phó Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Việt Úc

 

Thông tin về tình hình dịch bệnh trên tôm khu vực Nam miền Trung, ThS. Lê Thành Cường, Trường Đại học Nha Trang, cho biết, dịch bệnh cũng thường xảy ra cả trên tôm giống lẫn tôm nuôi thương phẩm, với các bệnh phổ biến, như: EMS, TPD, đục cơ, EHP… trong đó, bệnh EMS thường xuất hiện trong khoảng 30 ngày sau khi thả giống. Các kết quả nghiên cứu của Trường Đại học Nha Trang cho thấy, không phải bất kỳ khuẩn Vibrio nào cũng gây bệnh cho tôm, mà chỉ có những Vibrio mang đầy đủ cặp gen PirB VP và PirA VP.

Một vấn đề được đại biểu tham dự hội nghị chờ đợi nhất là giải pháp phòng và kiểm soát EHP tuy chưa được giải đáp hoàn toàn, nhưng GS.TS Đặng Thị Hoàng Oanh, Trường Thủy sản, Đại học Cần Thơ cũng đã mang đến một cái nhìn đa chiều hơn về dịch bệnh này. Theo GS.TS Đặng Thị Hoàng Oanh, muốn phòng và kiểm soát EHP có hiệu quả, chúng ta cần có sự hiểu biết nhiều hơn về EHP, nhưng đến thời điểm hiện tại, các kết quả nghiên cứu về EHP trong nước lẫn quốc tế vẫn chưa thật sự đáp ứng yêu cầu của người nuôi lẫn giới khoa học. Tuy  nhiên, với những gì mà các nhà khoa học đã tìm hiểu được về EHP cũng giúp chúng ta có thể nhận diện, từ đó có những giải pháp phòng và kiểm soát EHP một cách hiệu quả hơn, để hạn chế thiệt hại do dịch bệnh này gây ra.

Do có nguồn gốc từ nấm, nên con đường sinh sản của EHP thông qua bào tử. Bào tử của EHP có khả năng kháng nhiệt, bức xạ mặt trời, áp suất thẩm thấu và một số hóa chất, trong đó có clorin. Chúng chỉ lây nhiễm khi sợi cực được phóng vào vật chủ (cơ thể tôm) và bào tử EHP chỉ có thể nhân lên khi chúng ở bên trong cơ thể tôm, cụ thể là ở gan tụy. Từ đặc điểm trên, có thể phòng EHP trong môi trường ao nuôi bằng cách kích thích để chúng phóng sợi cực. EHP không có gen chuyển hóa, nhưng bù lại chúng có đến 4 gen vận chuyển và điều này lý giải vì sao tôm sau khi nhiễm EHP thường chậm lớn và còi cọc. Hiện vẫn chưa có cơ sở chứng minh EHP lây sang chiều dọc, mà con đường lây lan chủ yếu vẫn từ thức ăn tươi cho tôm bố mẹ, tôm chết, chất hữu cơ, thức ăn thừa, nguồn nước nhiễm EHP…

Nhận định về tình hình dịch bệnh trên tôm, GS.TS Đặng Thị Hoàng Oanh cho biết, từ đầu năm đến nay, cùng với EMS, TPD, tình hình EHP diễn biến theo chiều hướng xấu cho người nuôi. Trong khi đó, vấn đề lấy mẫu, xử lý mẫu để cho kết quả có nhiễm EHP hay không một cách chính xác nhất là rất khó. Theo đánh giá của GS.TS Đặng Thị Hoàng Oanh, có 2 biến nguy cơ cao là môi trường nước và khí NO2. Vì vậy, việc thay nước, thả nuôi với mật độ phù hợp, quản lý tốt thức ăn là rất quan trọng trong phòng và kiểm soát EHP, đặc biệt là giai đoạn tôm từ 9-21 ngày. Khi tôm nhiễm EHP, cơ thể sẽ tự động kích hoạt hệ thống đề kháng, khiến tôm càng dễ bị nhiễm một số loại vi khuẩn thứ cấp. Để phòng và kiểm soát EHP có hiệu quả trong điều kiện chúng ta chưa có hiểu biết đầy đủ về EHP, người nuôi tôm cần làm tốt khâu xử lý nước cấp, quản lý chất lượng nuôi trong quá trình nuôi, đặc biệt là chọn nguồn tôm giống tăng trưởng nhanh và không nhiễm bệnh.

 

Lời giải từ vi sinh

Có một điểm chung nhất được các nhà khoa học tham gia hội nghị cùng đề cập, đó là nếu chúng ta đưa vi sinh vào ngay từ khâu sản xuất giống, thức ăn cho đến xử lý nguồn nước cấp và quản lý nước ao nuôi không chỉ giúp con tôm khỏe, có sức đề kháng cao, mà còn hạn chế tình trạng phát sinh dịch bệnh, kể cả bệnh do EHP – hiện đang là nỗi lo lớn nhất của người nuôi tôm.

TS. Lê Thị Hải Yến, PGĐ Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Vemedim

 

Liên quan đến vấn đề vi sinh, vốn là thế mạnh của Vemedim, TS. Lê Thị Hải Yến, PGĐ Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển của Vemedim cho biết, giải pháp sinh học chính là hướng đi tất yếu cho nuôi tôm bền vững hiện nay. Chính vì thế, Vemedim luôn ưu tiên các sản phẩm vi sinh đã qua thực nghiệm, có bằng chứng rõ ràng trong phòng thí nghiệm lẫn ngoài thực địa. TS. Lê Thị Hải Yến chia sẻ: “Việc ứng dụng vi sinh không chỉ giúp ức chế các Vibrio có hại, phân hủy chất hữu cơ, khí độc mà còn giúp cân bằng hệ sinh thái ao nuôi và đường ruột tôm, từ đó giúp giảm phụ thuộc kháng sinh, nhưng vẫn đảm bảo gia tăng tỷ lệ sống và hiệu quả của nghề nuôi tôm”. Tuy nhiên, bà cũng lưu ý, không phải mọi chủng vi sinh đều mang lại hiệu quả như nhau, bởi hiệu quả vi sinh phụ thuộc vào từng chủng cụ thể. “Đơn cử, cùng là Bacillus Subtilis, nhưng không phải chủng nào cũng cho hiệu quả như nhau. Vì vậy, một chủng vi sinh được xem là hiệu quả khi chúng đáp ứng được các tiêu chí, như: có khả năng ức chế mầm bệnh (Virio ssp.), thích nghi với điều kiện ao nuôi (độ mặn, pH, nhiệt độ…), hoạt động hiệu quả trong thực tế (nước ao nuôi, đường ruột tôm)”, TS. Lê Thị Hải Yến nêu dẫn chứng.

GS.TS Vũ Ngọc Út, Hiệu trưởng Trường Thủy sản – Đại học Cần Thơ cho rằng, dịch bệnh không đến từ một nguyên nhân riêng lẻ mà từ nhiều yếu tố phức tạp cộng hưởng thành. Do đó, cần có hướng tiếp cận một cách toàn diện; trong đó, quan trọng nhất là phòng và kiểm soát dịch bệnh theo hướng ứng dụng vi sinh giúp cân bằng hệ sinh thái, giảm hóa chất. “Vai trò của vi sinh trong nuôi tôm ngày nay rất quan trọng, nhất là trong giai đoạn 40 ngày đầu”, GS.TS Vũ Ngọc Út khẳng định.

Đồng tình với quan điểm trên, ông Lưu Phước Hậu, Phó Tổng Giám đốc Công ty Vemedim cho rằng, thách thức trong quản lý sức khỏe, kiểm soát dịch bệnh tôm nuôi không thể giải quyết chỉ bởi một bên riêng lẻ mà cần có sự phối hợp giữa các nhà khoa học, người nuôi, doanh nghiệp.

Trong bối cảnh dịch bệnh trên tôm ngày càng phức tạp, việc ứng dụng vi sinh từ khâu sản xuất giống, quản lý môi trường đến dinh dưỡng đang được xem là hướng đi quan trọng để nâng cao sức khỏe tôm nuôi và giảm phụ thuộc vào kháng sinh. Theo các chuyên gia, sự phối hợp giữa nhà khoa học, doanh nghiệp và người nuôi sẽ là yếu tố then chốt để hướng tới ngành tôm phát triển ổn định và bền vững hơn trong thời gian tới.

Hoàng Nhã

PGS.TS Nguyễn Như Trí, Khoa Thủy sản, Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh: 

Muốn tôm khỏe cần đầu tư dinh dưỡng từ đầu vụ 

Con tôm khỏe sẽ hạn chế tình trạng nhiễm bệnh. Muốn con tôm khỏe, có sức đề kháng cao, ngoài việc chọn giống tốt, xử lý nước cấp và quản lý nguồn nước ao nuôi tốt thì vấn đề dinh dưỡng cho từng giai đoạn tăng trưởng của tôm nuôi là hết sức quan trọng. Do đặc thù Việt Nam nuôi với mật độ cao, trong môi trường đã được xử lý nên để tôm khỏe mạnh, tăng trưởng nhanh, ngoài di truyền chọn giống thì vấn đề protein trong khẩu phần thức ăn tôm trong từng giai đoạn cũng cần được nâng lên. Do đó, việc đầu tư thức ăn chất lượng cao ngay từ giai đoạn ương gièo là hết sức quan trọng, giúp đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho tôm phát triển, tạo điều kiện tốt cho quá trình san ao sau này. Việc quản lý tốt thức ăn trong từng giai đoạn phát triển của tôm nuôi còn giúp giảm FCR, giảm ô nhiễm, giảm giá thành và tôm tăng trưởng nhanh, ít dịch bệnh.

Tin mới nhất

T4,20/05/2026