[Người Nuôi Tôm] – EHP, Gregarine và nhiều tác nhân ký sinh khác đang trở thành nguyên nhân khiến tôm chậm lớn, phân trắng, hao hụt kéo dài. Việc nhận diện sớm và chủ động kiểm soát nhóm tác nhân này đóng vai trò quan trọng trong nghề nuôi tôm hiện nay.
Các tác nhân ký sinh gây bệnh gan tụy trên tôm thẻ chân trắng
Tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei hiện là đối tượng nuôi chủ lực của ngành thủy sản Việt Nam, hiện đang tăng trưởng nhanh về năng xuất và sản lượng. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nghề nuôi là sự gia tăng của nhiều loại dịch bệnh nguy hiểm, đặc biệt là các bệnh liên quan đến gan tụy và hệ tiêu hóa.
Trong thực tế sản xuất, thuật ngữ “ký sinh trùng gan” thường được người nuôi sử dụng để chỉ các tác nhân ký sinh hoặc sinh vật cơ hội cư trú trong cơ quan gan tụy của tôm, gây tổn thương mô gan tụy, rối loạn tiêu hóa, giảm tăng trưởng và làm tăng tỷ lệ chết. Các nhóm tác nhân này bao gồm nguyên sinh động vật, vi bào tử trùng, Gregarine, trùng hai tế bào và một số sinh vật hội sinh có khả năng phát triển mạnh trong điều kiện môi trường xấu.

EHP, Gregarine và nhiều tác nhân ký sinh khác đang trở thành nguyên nhân khiến tôm chậm lớn, phân trắng, hao hụt kéo dài
Vai trò của gan tụy ở tôm thẻ chân trắng
Gan tụy của tôm nằm ở phần đầu ngực, có màu vàng nâu hoặc vàng nhạt ở trạng thái khỏe mạnh. Gan tụy là cơ quan đặc biệt quan trọng đối với tôm, đảm nhiệm nhiều chức năng như tiết enzyme tiêu hóa (protein, lipid và carbohydrate), hấp thu dưỡng chất, dự trữ năng lượng (glycogen và lipid). Ngoài ra, gan cũng tham gia tích cực vào quá trình giải độc cơ thể và đóng vai trò quan trọng trong miễn dịch tự nhiên. Do thường xuyên tiếp xúc với thức ăn và môi trường nước qua hệ tiêu hóa nên gan tụy rất dễ bị tác động bởi mầm bệnh, độc tố và ký sinh trùng. Khi gan tụy bị tổn thương, tôm thường biểu hiện giảm ăn, chậm lớn, phân trắng, mềm vỏ, màu sắc nhợt nhạt và dễ mắc thêm các bệnh cơ hội khác, như bệnh do vi khuẩn Vibrio hay hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND). Do đó, việc tìm hiểu đặc điểm và phân biệt được tác nhân, cơ hội điều trị nhằm hạn chế rủi ro và xây dựng các biện pháp phòng trị hiệu quả có ý nghĩa rất lớn đối với nghề nuôi tôm bền vững.
Các nhóm ký sinh trùng gan quan trọng trên tôm thẻ chân trắng
Vi bào tử trùng EHP
Một trong những tác nhân quan trọng nhất hiện nay là Enterocytozoon hepatopenaei infection do vi bào tử trùng Enterocytozoon hepatopenaei (EHP) gây ra. EHP thuộc nhóm Microsporidia – có kích thước rất nhỏ (1–1,5 µm) và sống ký sinh nội bào. Chúng ký sinh chủ yếu trong tế bào biểu mô ống gan tụy của tôm. Vi bào tử trùng EHP không gây chết hàng loạt nhưng gây hậu quả kinh tế nghiêm trọng do làm tôm chậm lớn, phân đàn mạnh và kéo dài thời gian nuôi. Tuy nhiên, tôm bị nhiễm EHP rồi chết có thể do biến chứng và bội nhiễm các vi khuẩn gây bệnh khác.
Sau khi xâm nhập vào cơ thể, EHP phát triển trong tế bào gan tụy và sử dụng dinh dưỡng của tế bào chủ để sinh trưởng. Quá trình này làm tổn thương biểu mô ống gan tụy, giảm khả năng tiêu hóa và hấp thu, gây rối loạn chuyển hóa và suy giảm miễn dịch. Khi mật độ nhiễm cao, mô gan tụy teo nhỏ và hoại tử từng phần.
Tôm nhiễm EHP thường có các biểu hiện chậm lớn rõ rệt, kích cỡ không đồng đều. Tôm nhiễm kí sinh trùng thường có gan tụy nhạt màu hoặc teo nhỏ, ruột đứt khúc, giảm ăn kéo dài và kèm theo biểu hiện phân trắng. Tỷ lệ chết thường không cao nhưng thiệt hại do kéo dài thời gian nuôi và giảm năng suất rất lớn.
EHP không lây truyền dọc từ mẹ sang con nhưng có thể lây truyền ngang với tốc độ rất nhanh. Nguồn nước ô nhiễm, phân và xác tôm nhiễm bệnh, cũng như thức ăn mang mầm bệnh đều có thể gây nguy cơ bùng phát EHP lớn.
Gregarine ký sinh đường ruột và gan tụy
Gregarine là nhóm nguyên sinh động vật ký sinh chủ yếu ở ruột, nhưng có thể ảnh hưởng gián tiếp đến gan tụy. Mặc dù nhiều nghiên cứu chỉ ra tỉ lệ nhiễm Gregarine khá cao ở tôm nuôi, nhưng người dân ít chú ý hơn do tác hại gây chúng gây ra không dữ dội như EHP.
Tương tự EHP, Gregarine gây ra những tổn thương biểu mô ruột, giảm hấp thu thức ăn, làm tăng áp lực lên gan tụy và là nguyên nhân trực tiếp gây ra bệnh về đường ruột. Đặc biệt khi Gregarine kết hợp với vi khuẩn Vibrio tạo thành hội chứng phân trắng, rất phổ biến trong ao nuôi tôm.
Các dấu hiệu lâm sàng khi nhiễm Gregarine tôm giảm ăn, ruột đứt đoạn, nổi phân trắng, gan tụy nhạt màu và yếu bơi gần bờ. Các triệu trứng này giống như triệu chứng do nhiễm EHP dẫn đến nhiều chẩn đoán sai lệch.
Trùng hai tế bào và Coccidia
Một số loài trùng hai tế bào ký sinh trong biểu mô gan tụy hoặc ruột của tôm gây tổn thương mô và giảm chức năng tiêu hóa. Thông thường bệnh này có thể xuất hiện trong điều kiện mật độ nuôi cao, hữu cơ đáy ao tích tụ và chất lượng nước kém. Biểu hiện thường thấy là tôm chậm lớn, vỏ mềm, gan tụy teo và phân lỏng. Để phân biệt các loại kí sinh trùng và tác hại của chúng có thể dựa vảo bẳng so sánh dưới đây:
Bảng 1: So sánh các loại kí sinh trùng tôm khác nhau

Các biện pháp phòng bệnh
Lựa chọn giống sạch bệnh SPF được mua từ các cơ sở uy tín, có kiểm tra PCR đối với các bệnh do kí sinh trùng nói chung và EHP nói riêng là biện pháp quan trọng nhất. Bên cạnh đó, quy trình cải tạo ao đúng cũng góp phần hạn chế bệnh do kí sinh trùng. Phơi đáy, dung hoá chất diệt tạp và khủ trùng cũng làm giảm nguy cơ lây nhiễm. Bào tử EHP cũng có thể bị chết sau 10 ngày trong nước sạch, hoặc bị tiêu diệt nhanh trong nước chứa chlorine 20 ppm. Định kỳ siphon đáy, thay nước hợp lý, sử dụng vi sinh và kiểm soát tốt các yếu tố môi trường cũng giảm sự bùng phát của kí sinh trùng. Sử dụng chế phẩm sinh học như: Probiotic giúp ổn định hệ vi sinh đường ruột, giảm Vibrio và cải thiện chức năng gan tụy là những hướng ưu tiên hàng đầu. Ngoài ra, sử dụng các sản phẩm làm gia tang sức đề kháng như: Beta-glucan, Vitamin C, Nucleotide, thảo dược hay các sản phẩm chứa axit hữu cơ (VD: Butyric) cũng có tác dụng giúp tôm lớn nhanh, ruột khoẻ và hạn chế các bệnh do kí sinh trùng.
Kết luận
Bệnh ký sinh trùng gan trên tôm thẻ chân trắng là nhóm bệnh quan trọng gây thiệt hại lớn cho nghề nuôi tôm hiện nay. Các tác nhân chủ yếu gồm vi bào tử trùng EHP, Gregarine, trùng hai tế bào và các sinh vật nguyên sinh cơ hội. Chúng gây tổn thương gan tụy, làm giảm khả năng tiêu hóa, chậm tăng trưởng và tạo điều kiện cho nhiều bệnh thứ phát. Trong thực tế, việc điều trị các bệnh ký sinh trùng gan thường khó khăn và hiệu quả không cao, đặc biệt đối với EHP. Vì vậy, biện pháp hiệu quả nhất vẫn là phòng bệnh thông qua quản lý tốt con giống, cải tạo ao, kiểm soát môi trường, sử dụng thức ăn chất lượng và áp dụng an toàn sinh học.
TS. Nguyễn Ngọc Tuấn
Giảng viên Khoa Thủy sản, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Liên hệ tác giả:
Điện thoại: 0973 990 198
Email: nntuan245@gmail.com
- bệnh ký sinh trùng li>
- EHP li>
- gregarine li> ul>
- Gần 40 năm bám đầm nuôi tôm, thu tiền tỉ mỗi năm ở Ninh Bình
- Đón đọc ấn phẩm Người Nuôi Tôm số tháng 5.2026
- Hoa Kỳ công bố thuế sơ bộ cho tôm Việt Nam, 29 doanh nghiệp đủ điều kiện nhận mức thuế suất riêng
- Hội thảo TESF 2026: Công nghệ cơ khí thủy sản thông minh
- Khánh Hòa: Người nuôi tôm hùm giảm thả giống do giá thấp
- Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng: Đừng đánh đổi vùng nuôi tôm lấy dự án tỷ USD
- Nghệ An: Chủ động đưa tôm vào nhà lưới khép kín để ứng phó nắng nóng
- Axit hữu cơ và công nghệ enzyme: Hướng tiếp cận nâng cao hiệu suất nuôi trồng thủy sản
- Protein từ bột côn trùng: Nguồn dinh dưỡng mới cho tôm giống
- Hà Tĩnh: Siết chặt quản lý tôm giống vụ xuân – hè
Tin mới nhất
T2,18/05/2026
- Tổng quan về ký sinh trùng gan gây bệnh trên tôm thẻ chân trắng: Tác nhân và biện pháp phòng trị
- Gần 40 năm bám đầm nuôi tôm, thu tiền tỉ mỗi năm ở Ninh Bình
- Đón đọc ấn phẩm Người Nuôi Tôm số tháng 5.2026
- Hoa Kỳ công bố thuế sơ bộ cho tôm Việt Nam, 29 doanh nghiệp đủ điều kiện nhận mức thuế suất riêng
- Hội thảo TESF 2026: Công nghệ cơ khí thủy sản thông minh
- Khánh Hòa: Người nuôi tôm hùm giảm thả giống do giá thấp
- Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng: Đừng đánh đổi vùng nuôi tôm lấy dự án tỷ USD
- Nghệ An: Chủ động đưa tôm vào nhà lưới khép kín để ứng phó nắng nóng
- Axit hữu cơ và công nghệ enzyme: Hướng tiếp cận nâng cao hiệu suất nuôi trồng thủy sản
- Protein từ bột côn trùng: Nguồn dinh dưỡng mới cho tôm giống
Các ấn phẩm đã xuất bản
- TOPGEN giới thiệu dòng tôm sú gia hóa thế hệ mới, ký kết hợp tác chiến lược với doanh nghiệp giống
- Thành lập Hiệp hội Tôm Việt Nam: Ngành tôm chính thức có tổ chức đại diện cấp quốc gia
- Giá tôm xuất khẩu tăng mạnh, tạo động lực phục hồi sản xuất và nâng tầm giá trị ngành tôm
- Gần 500 hộ nuôi khẳng định hiệu quả Advance Pro – Tiến bộ kỹ thuật của Grobest
- Người nuôi tôm phập phồng với “ngày nắng, đêm mưa”
- Động lực phát triển đột phá ngành thủy sản
- Công nghệ sinh học toàn diện: Giải pháp nuôi tôm thành công từ Tâm Việt
- Biện pháp kiểm soát khí độc Nitrite (NO2) trong mô hình nuôi tôm TLSS-547
- Ngành chức năng và nông dân Quảng Nam cùng gỡ khó cho nuôi tôm nước lợ
- Thời tiết bất lợi gây thiệt hại hơn 27 triệu con tôm sú, tôm thẻ nuôi
- An toàn sinh học: Giải pháp then chốt cho bài toán dịch bệnh thủy sản
- Sử dụng sóng siêu âm để tính sinh khối ao nuôi tôm
- Máy sưởi ngâm: Cách mạng hóa nghề nuôi tôm ở Việt Nam
- Waterco: Giải pháp thiết bị hàng đầu trong nuôi trồng thủy sản
- GROSHIELD: “Trợ thủ đắc lực” giúp tôm đề kháng vững vàng hàng ngày, sẵn sàng về đích
- Năm mới, nỗi lo cũ: “Làm sao để tăng cường đề kháng cho tôm?”
- Vi sinh: Giải pháp mục tiêu toàn diện
- Grobest Việt Nam: Tiên phong ra mắt sản phẩm thức ăn chức năng hàng ngày Groshield, nâng cao tối đa sức đề kháng, hướng đến những vụ tôm về đích thành công trong năm tới
- Solagron Vietnam: Nhà sản xuất vi tảo công nghiệp đầu tiên mang dấu ấn Việt Nam
- Giải pháp giảm phát thải trong nuôi trồng thủy sản từ bột cá thủy phân





















