Indonesia: Hàng trăm triệu tôm hùm giống có nguy cơ thất thoát qua buôn lậu

[Người Nuôi Tôm] – Theo báo chí Indonesia, ngành thủy sản quốc gia này đang đứng trước bài toán cân bằng giữa khai thác, xuất khẩu tôm hùm giống trong suốt (BBL – Benih Bening Lobster) và phát triển nuôi thương phẩm trong nước, khi giá trị con giống đang thấp hơn đáng kể so với giá trị có thể tạo ra sau quá trình nuôi.

Tại Indonesia, nguồn cung tôm hùm giống dồi dào, nhưng giá trị vẫn nghiêng về xuất khẩu (Ảnh: St)

 

Tại một phiên lắng nghe ý kiến công chúng với các nhóm nuôi tôm hùm ngày 20/4/2026, ông Sumail Abdullah, thành viên Ủy ban IV Hạ viện Indonesia (DPR RI), cho rằng hoạt động kinh doanh BBL hiện có xu hướng tập trung vào xuất khẩu hơn là phát triển nuôi tôm hùm trong nước.

Theo ông Sumail, khu vực phía Nam nơi ông đại diện là một trong những vùng sản xuất BBL của Indonesia. Tuy nhiên, đang tồn tại sự mất cân bằng giữa nhu cầu con giống cho hoạt động nuôi trong nước và xu hướng thương mại hóa, xuất khẩu BBL.

Ông cho biết, giá BBL tại Indonesia hiện khoảng 10.000 rupiah/con (~0,56 USD/con), trong khi giá xuất khẩu có thể đạt 16.000–30.000 rupiah/con (~ 0,90–1,68 USD/con), tùy thị trường, trong đó có Việt Nam. Mức chênh lệch này tạo động lực để các nhà kinh doanh ưu tiên xuất khẩu thay vì đầu tư vào nuôi thương phẩm trong nước.

Trong khi đó, ông Riyono Caping, Chủ tịch Aliansi Nelayan Indonesia (Liên minh Ngư dân Indonesia), ước tính nguồn BBL tự nhiên của Indonesia có thể đạt khoảng 469 triệu con/năm. Tuy nhiên, theo ông, tỷ lệ sống tự nhiên chỉ khoảng 1%, tương đương khoảng 4 triệu con có khả năng sống sót và phát triển thành tôm trưởng thành.

Theo ông Riyono, BBL hiện được ngư dân khai thác từ biển và bán cho các đầu mối trung gian. Một phần nguồn giống có nguy cơ bị đưa ra nước ngoài trái phép, khiến Indonesia mất cơ hội gia tăng giá trị thông qua nuôi thương phẩm.

Ông Riyono ước tính, nếu khoảng 450 triệu BBL được đưa vào nuôi đến trọng lượng 200 g/con, với giá tôm khoảng 450.000 rupiah/kg (~25,22 USD/kg), tổng giá trị kinh tế có thể đạt khoảng 22.000 tỷ rupiah (~1,23 tỷ USD).

Tuy nhiên, phát triển nuôi tôm hùm tại Indonesia cũng đối mặt với thách thức về thời gian nuôi. Theo báo chí quốc gia này đưa tin, tại một số khu vực như Tây Bali, tôm hùm cần thêm khoảng 2–3 tháng để đạt kích cỡ thu hoạch so với Việt Nam. Khoảng thời gian nuôi dài hơn khiến tôm hùm Indonesia gặp bất lợi về khả năng cạnh tranh. Sản phẩm nuôi trong nước vì vậy chủ yếu hướng tới thị trường nội địa, trong khi BBL vẫn có sức hấp dẫn đối với hoạt động thương mại xuyên biên giới, nhất là Việt Nam, hiện đang nhập khẩu BBL chủ yếu từ Indonesia.

Thực tế này cho thấy, Indonesia đang đứng trước bài toán nâng giá trị nguồn BBL từ khai thác và bán giống sang nuôi đến kích cỡ thương phẩm. Với nguồn giống tự nhiên được ước tính lên tới hàng trăm triệu con mỗi năm, việc nâng tỷ lệ sống, rút ngắn thời gian nuôi và kiểm soát tốt chuỗi thu gom có thể quyết định hiệu quả kinh tế của ngành tôm hùm nước này.

Đối với người nuôi tôm hùm Việt Nam, diễn biến tại Indonesia đáng chú ý bởi Việt Nam được nhắc đến như một thị trường tiêu thụ BBL lớn, đồng thời có lợi thế về thời gian nuôi thương phẩm. Điều này phần nào lý giải sức hút của BBL Indonesia trên thị trường khu vực.

Phạm Huệ 

 

Xem thêm:

Tin mới nhất

T6,14/08/2026