Tìm giải pháp phát triển bền vững ngành tôm hùm Việt Nam

[Người Nuôi Tôm] – Ngành tôm hùm Việt Nam đang có tốc độ tăng trưởng tích cực về xuất khẩu nhưng vẫn đối mặt với nhiều điểm nghẽn từ nguồn giống, phương thức nuôi, môi trường đến thị trường. Việc tái cơ cấu sản xuất, nâng cao khả năng truy xuất và đa dạng hóa đầu ra được xem là yêu cầu cấp thiết để ngành hàng phát triển bền vững.

 

Ngày 8/8 tại Nha Trang, Cục Thủy sản và Kiểm ngư phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Khánh Hòa tổ chức Hội nghị “Phát triển nuôi và tiêu thụ tôm hùm bền vững”. Hội nghị có sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý Trung ương và địa phương, viện, trường, Hội, Hiệp hội, doanh nghiệp, hợp tác xã và người nuôi, tập trung trao đổi về sản xuất, con giống, truy xuất nguồn gốc, thị trường xuất khẩu và các giải pháp nâng cao giá trị chuỗi tôm hùm Việt Nam.

Cục Thủy sản và Kiểm ngư phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Khánh Hòa tổ chức Hội nghị “Phát triển nuôi và tiêu thụ tôm hùm bền vững” (Ảnh: VASEP)

 

Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư, vùng nuôi tôm hùm hiện trải dài từ Quảng Bình đến TP. Hồ Chí Minh, trong đó Khánh Hòa và Đắk Lắk chiếm hơn 95% tổng số lồng nuôi và sản lượng cả nước. Năm 2025, xuất khẩu tôm hùm đạt 858 triệu USD. Trong 6 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 11.790 tấn tôm hùm, thu về 584,6 triệu USD, tăng 44,1% so với cùng kỳ. Trung Quốc tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất, chiếm 98,53% kim ngạch xuất khẩu.

Lãnh đạo Cục Thủy sản và Kiểm ngư tại Hội nghi (Ảnh: VASEP)

 

Tuy nhiên, đà tăng trưởng của ngành hàng đang đi cùng nhiều thách thức. Nhu cầu con giống trên cả nước khoảng 100 – 120 triệu con/năm, trong khi nguồn khai thác tự nhiên chỉ đáp ứng khoảng 10%. Riêng Khánh Hòa cần khoảng 60 – 70 triệu con giống mỗi năm nhưng nguồn giống tự nhiên chỉ đáp ứng khoảng 5% nhu cầu.

Trong 6 tháng đầu năm 2026, nguồn giống nhập khẩu chính ngạch sụt giảm mạnh, khiến giá giống tăng cao. Tại Khánh Hòa, tôm hùm xanh giống có giá khoảng 45.000 – 50.000 đồng/con, trong khi tôm hùm bông ở mức 60.000 – 65.000 đồng/con. Việc thiếu nguồn cung chính ngạch cũng làm gia tăng nguy cơ sử dụng con giống không rõ nguồn gốc, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả nuôi.

Cùng với bài toán con giống, phương thức nuôi truyền thống cũng đang tạo áp lực lên môi trường. Tình trạng nuôi với mật độ cao, tập trung nhiều lồng tại khu vực ven bờ và sử dụng thức ăn tươi sống làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm, dịch bệnh và hao hụt. Tại Đắk Lắk, địa phương hiện có khoảng 160.000 lồng tôm hùm trên diện tích 2.500 ha, trong đó hơn 80% số lồng tập trung ở vùng ven bờ.

Tại Khánh Hòa, 6 tháng đầu năm 2026, người dân đã thả nuôi 137.136 lồng, sản lượng đạt hơn 10.270 tấn. Trước áp lực gia tăng quy mô, địa phương đang rà soát, sắp xếp lại vùng nuôi, thực hiện giao khu vực biển, đăng ký lồng nuôi và thúc đẩy hình thành các tổ hợp tác, hợp tác xã liên kết với doanh nghiệp. Trong khi đó, Đắk Lắk định hướng tái cơ cấu mạnh hoạt động nuôi tôm hùm, dự kiến giảm quy mô xuống còn khoảng 48.000 lồng trên diện tích 1.000 ha, đồng thời khuyến khích phát triển nuôi công nghệ cao xa bờ và thu hút doanh nghiệp đầu tư bài bản.

Đối với nguồn giống, ông Nguyễn Hữu Dũng, Tổng thư ký Hội Thủy sản Việt Nam cho rằng cần có giải pháp chủ động hơn trong bối cảnh Indonesia, nguồn cung tôm hùm giống chính cho Việt Nam, đang thay đổi chính sách quản lý. Theo Quy định KP 7/2024 của Indonesia, nước này chỉ cho phép xuất khẩu tôm hùm sống trên 50 g và yêu cầu doanh nghiệp nước ngoài đầu tư cơ sở ươm giống tại địa phương.

Từ thực tế này, ông Dũng đề xuất mô hình liên doanh hai giai đoạn, trong đó xây dựng cơ sở tại Indonesia để ươm tôm từ 0,2 g lên 5 g, sau đó chuyển về Việt Nam dưỡng lên trên 20 g trước khi cung ứng cho người nuôi.

Một hướng tháo gỡ khác đang được nghiên cứu là thay thế thức ăn tươi bằng thức ăn công nghiệp. TS. Mai Duy Minh, Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam cho biết đơn vị đã nghiên cứu thức ăn công nghiệp cho cả tôm hùm xanh và tôm hùm bông. Kết quả thử nghiệm cho thấy cả hai đối tượng đều có thể sử dụng loại thức ăn này, trong đó tôm hùm xanh có tốc độ tăng trưởng trong bể gần tương đương khi sử dụng thức ăn tươi và ít bệnh hơn.

Khi thử nghiệm ngoài lồng bè, tôm hùm xanh sử dụng thức ăn công nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng bằng khoảng 80% so với ăn cá mồi, tỷ lệ sống đạt 70% và hạn chế dịch bệnh. Hiện đơn vị tiếp tục nghiên cứu nâng độ bền của viên thức ăn trong nước từ 45 – 50 phút lên 3 – 4 giờ, kết hợp sử dụng máy cho ăn tự động. Mục tiêu là từng bước thay thế một phần và tiến tới thay thế hoàn toàn thức ăn tươi trong 2 – 3 năm tới đối với tôm hùm xanh.

Ở góc nhìn thị trường, đại diện Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cho rằng cần tập trung tháo gỡ các rào cản đối với tôm hùm bông, đồng thời chuẩn hóa chuỗi từ vùng nuôi, thu mua, đóng gói đến xuất khẩu. Việc tăng cường truy xuất nguồn gốc, cập nhật cảnh báo thị trường và chuẩn hóa dữ liệu từ vùng nuôi đến xuất khẩu cũng cần được đẩy mạnh để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường nhập khẩu.

Đại diện Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cho rằng cần tập trung tháo gỡ các rào cản đối với tôm hùm bông, đồng thời chuẩn hóa chuỗi từ vùng nuôi, thu mua, đóng gói đến xuất khẩu.

 

VASEP đồng thời đề xuất đa dạng hóa thị trường, tăng cường xúc tiến thương mại và từng bước xây dựng thương hiệu “Tôm hùm Việt Nam – Vietnam Lobster”. Theo hiệp hội, cần tăng cường liên kết giữa người nuôi, hợp tác xã, doanh nghiệp, cơ quan quản lý và thị trường để biến lợi thế về sản lượng và xuất khẩu hiện nay thành năng lực cạnh tranh bền vững cho ngành hàng. VASEP sẽ tiếp tục đồng hành, tổng hợp tiếng nói doanh nghiệp; cập nhật nhu cầu, giá, chính sách và cạnh tranh tại các thị trường; phối hợp với các cơ quan quản lý trong truyền thông, phổ biến quy định và yêu cầu thị trường; đồng thời từng bước tăng cường kết nối, xúc tiến và quảng bá tôm hùm Việt Nam.

Nhiều đại biểu cũng kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các cơ quan Trung ương đặt hàng nhiệm vụ khoa học – công nghệ cấp quốc gia, tập trung vào công nghệ sản xuất giống nhân tạo, thức ăn công nghiệp chuyên dùng, quy trình nuôi trên bờ bằng hệ thống lọc nước tuần hoàn (RAS) và giải pháp kiểm soát các bệnh phổ biến trên tôm hùm. Cùng với đó là các cơ chế hỗ trợ về tài chính, tín dụng, hạ tầng hậu cần, nhập khẩu giống chính ngạch và xúc tiến mở rộng thị trường.

Theo ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư, tôm hùm là đối tượng nuôi chủ lực trong chiến lược phát triển nuôi biển quốc gia. Để phát triển ngành hàng theo hướng hiện đại và bền vững, cần chuyển mạnh từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, lấy khoa học công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo làm động lực; đồng thời chú trọng chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và năng lực cạnh tranh.

Việc đồng bộ các giải pháp từ con giống, công nghệ nuôi đến tổ chức sản xuất và thị trường được kỳ vọng sẽ tháo gỡ những điểm nghẽn hiện nay, giúp ngành tôm hùm nâng cao giá trị, giảm rủi ro và phát triển ổn định, bền vững trong thời gian tới.

Lan Hương

Tin mới nhất

T2,10/08/2026