Ngành tôm 2025 và đầu năm 2026: Toàn cảnh diễn biến dịch bệnh

[Người Nuôi Tôm] – Tình hình dịch bệnh trên tôm nuôi đang phát đi những tín hiệu cảnh báo đỏ cho ngành thủy sản Việt Nam. Với tỷ lệ  nhiễm bệnh trung bình toàn quốc vượt ngưỡng 70%, các mầm bệnh nguy hiểm lưu  hành rộng rãi đang đe dọa trực tiếp đến tỷ lệ thành công và biên lợi nhuận của các vụ nuôi.

Ghi nhận toàn năm 2025 cho thấy rủi ro dịch bệnh trên tôm nuôi toàn quốc duy trì ở mức rất cao

 

Ghi nhận toàn năm 2025 cho thấy, rủi ro dịch bệnh trên tôm nuôi toàn quốc duy trì ở mức rất cao với tỷ lệ nhiễm bệnh trung bình lên tới 70,73%, tương đương 37.529 mẫu nhiễm trên tổng số 53.061 mẫu kiểm tra. Diễn biến dịch tễ có sự phân hóa rõ rệt khi miền Bắc hiện là “điểm nóng” có tỷ lệ nhiễm cao nhất đạt 84,94% (6.027 mẫu nhiễm trên tổng số 7.096 mẫu) dưới tác động của biến động thời tiết khắc nghiệt. Miền Trung cũng ở mức báo động với tỷ lệ nhiễm 76,54% (12.684 mẫu nhiễm trên tổng số 16.572 mẫu), đòi hỏi sự cẩn trọng cao độ về an toàn sinh học. Trong khi đó, miền Nam ghi nhận tỷ lệ nhiễm thấp nhất là 64,02%, nhưng lại là vùng trọng điểm có số mẫu kiểm tra áp đảo với 18.818 mẫu nhiễm trên tổng số 29.393 mẫu.

 

Toàn cảnh bản đồ mầm bệnh và quy luật dịch tễ theo mùa vụ

Xét theo chủng loại bệnh, miền Bắc đang gánh chịu áp lực lớn nhất khi dẫn đầu về tỷ lệ mắc bệnh phân trắng (25,79%), chậm lớn do EHP (20,34%) và chết sớm do AHPND (13,23%). Miền Trung trở thành tâm điểm của bệnh trắng thủy tinh (TPD) với tỷ lệ 7,73%, cao gấp 2,5 lần các vùng khác, đồng thời tỷ lệ bệnh gan tụy ở mức rất cao là 18,73%. Đối với miền Nam, mối đe dọa lớn nhất là bệnh đỏ thân/đốm trắng khi chiếm tỷ lệ 9,78%, mức cao nhất cả nước. Các mầm bệnh khác lưu hành ở mức thấp hơn bao gồm bệnh đường ruột (4,67% – 0,17%), yếu/hao hụt (1,29% – 0,28%), vi khuẩn V. harveyi (0,28% – 0,04%) và tôm bị ký sinh trùng (0,02% – 0,01%).

Quy luật thời gian cho thấy, bệnh phân trắng bùng phát từ tháng 3 và đạt đỉnh vào tháng 7 với tỷ lệ 34,05% do thời tiết nóng ẩm. Bệnh TPD lại tấn công mạnh vào giai đoạn giao mùa đầu và cuối năm như tháng 1, 2, 3 và tháng 12 rồi giảm sâu. Ngược lại, áp lực từ bệnh gan tụy và chậm lớn (EHP) luôn duy trì ở mức cao ổn định từ 20% đến 25% suốt cả năm, do công tác quản lý môi trường và chất lượng con giống kém bền vững chứ không theo mùa vụ.

 

Tiêu điểm dịch tễ tại các địa phương trọng điểm

Đối với EHP, Cà Mau là điểm nóng vượt trội và có đỉnh bùng phát cao nhất vào tháng 7. Các đợt bùng phát EHP tại các tỉnh khác diễn ra rải rác và lệch pha nhau khi Vĩnh Long đạt đỉnh vào tháng 12, Nghệ An tháng 10, Đắk Lắk tháng 4 và Cần Thơ tháng 8, chứng minh bệnh phụ thuộc lớn vào quy trình ao nuôi và nguồn nước từng vùng.

Đối với bệnh TPD, Vĩnh Long là trọng điểm gánh chịu áp lực lớn nhất với 413 ca nhiễm, tương đương tỷ lệ 17,75% và đạt đỉnh vào tháng 2. Tiếp theo là Đà Nẵng với 325 ca (tỷ lệ 13,97%, đỉnh tháng 12), Quảng Ngãi với 281 ca (tỷ lệ 12,08%, đỉnh tháng 3), Đắk Lắk với 264 ca (tỷ lệ 11,35%, đỉnh tháng 3) và Cà Mau với 227 ca (tỷ lệ 9,76%, đỉnh tháng 1). Sự xuất hiện của TPD tại tỉnh nội địa như Đắk Lắk cho thấy, mầm bệnh đang lây lan rộng qua nguồn nước hoặc vận chuyển con giống không kiểm soát.

Đối với bệnh AHPND, các tỉnh nội địa bất ngờ dẫn đầu danh sách nhiễm bệnh khi Đắk Lắk ghi nhận 805 ca (tỷ lệ 15,87%) và Tây Ninh ghi nhận 668 ca (tỷ lệ 13,17%), cảnh báo lỗ hổng trong quản lý vi khuẩn Vibrionaceae ở nguồn nước nội địa và nước ngầm. Các tỉnh ven biển cũng có số ca nhiễm cao, bao gồm Nghệ An với 678 ca (tỷ lệ 13,36%, đỉnh tháng 4), Đà Nẵng với 582 ca (tỷ lệ 11,47%, đỉnh tháng 8) và Vĩnh Long với 478 ca (tỷ lệ 9,42%, đỉnh tháng 12). Với tỷ lệ nhiễm từ 9% đến gần 16% và khả năng gây thiệt hại trắng ao trong 20-30 ngày đầu sau thả,  AHPND tiếp tục là mối nguy lớn cho người nuôi.

 

Giải pháp chiến lược ứng phó dịch bệnh và tối ưu chi phí

Trước những diễn biến phức tạp của dịch bệnh và áp lực từ thị trường tiêu thụ, việc chuyển đổi phương thức quản lý vận hành ao nuôi được xem là yếu tố then chốt giúp đảm bảo tính bền vững của chuỗi sản xuất.

Kinh nghiệm từ các mô hình thành công cho thấy, giải pháp “nén chu kỳ” thông qua hình thức thu tỉa chủ động mang lại hiệu quả rõ rệt trong việc giảm tải áp lực môi trường. Thay vì duy trì mật độ nuôi cao cho đến cuối vụ, quy trình thu hoạch được chia làm các giai đoạn lũy tiến, bắt đầu thu bớt 30-40% lượng tôm khi đạt kích cỡ 100 con/kg. Các giai đoạn tiếp theo được thực hiện khi tôm đạt kích cỡ 70–60 con/kg trước khi thu hoạch toàn bộ ở kích cỡ tối ưu 30–40 con/kg. Phương thức canh tác này vừa giữ sinh khối ao nuôi luôn dưới ngưỡng tải trọng cho phép của hệ thống lọc, vừa rút ngắn thời gian phơi nhiễm với các đợt mầm bệnh bùng phát theo mùa, đồng thời tối ưu hóa vòng quay vốn cho các hộ nuôi.

Song song đó, việc ứng dụng các giải pháp kỹ thuật bổ trợ đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát sức chứa môi trường đối với các ao nuôi mật độ cao, khoảng 200 con/m². Việc đồng bộ hạ tầng xử lý nước bằng công nghệ điện phân, siêu âm hoặc sử dụng oxy già giúp chủ động khử  khuẩn, ổn định các chỉ số hóa lý và giảm thiểu căng thẳng sinh lý cho tôm. Quá trình này cần kết hợp chặt chẽ với hệ thống phần mềm giám sát thông minh, nhằm theo dõi sát sao tải lượng thức ăn và biến động sinh khối, giúp đưa ra quyết định thu tỉa kịp thời khi môi trường có dấu  hiệu quá tải.

Trong bối cảnh giá tôm thương phẩm biến động, hiệu suất sản xuất trở thành mục tiêu cốt lõi để tối ưu hóa chi phí. Các chuyên gia khuyến cáo cần ưu tiên lựa chọn những dòng giống có tốc độ tăng trưởng nhanh, điển hình như dòng VUS26, nhằm rút ngắn thời gian lưu ao, từ đó giảm đáng kể chi phí thức ăn và năng lượng vận hành. Ngoài ra, việc chủ động cập nhật và phân tích bản đồ dịch tễ theo vùng giúp các cơ sở nuôi đưa ra lịch trình thu hoạch sớm trước thời điểm dịch bệnh đạt đỉnh theo quy luật khí hậu của từng địa phương.

Cuối cùng, xu hướng tiếp cận an toàn sinh học bằng giải pháp vi sinh và các hợp chất tự nhiên đang chứng minh được tính ưu việt ở những vùng nuôi mật độ cao. Việc ứng dụng định kỳ các dòng vi khuẩn ích lợi, tiêu biểu như chủng Lactobacillus được ủ men đậm đặc, giúp thiết lập hệ vi sinh đường ruột và gan tụy khỏe mạnh cho tôm. Xu hướng này kết hợp với các giải pháp bổ trợ có nguồn gốc tự nhiên như cơm mẻ và thảo dược, giúp nâng cao khả năng miễn dịch tự nhiên của tôm nuôi một cách bền vững mà không phụ thuộc vào các biện pháp can thiệp bằng hóa chất hay kháng sinh.

Các số liệu được trình bày trong bài do tác giả theo dõi và tổng hợp, phục vụ mục đích tham khảo.

Nguyễn Thành Tâm