Bí quyết thành công ba vụ liên tiếp: Nuôi thưa và kiểm soát rủi ro cùng mô hình TLSS

[Người Nuôi Tôm] – Hơn 1 thập kỷ gắn với nghề, anh Huỳnh Út Nhỏ, ấp Hoàng Lân, xã Tân Hưng Đông, tỉnh Cà Mau vẫn duy trì 3 vụ tôm mỗi năm, nuôi được tôm size lớn và giữ lợi nhuận ổn định. Thành quả ấy đến từ kinh nghiệm nuôi mật độ thưa, kiểm soát rủi ro và nuôi theo mô hình TLSS.

Khu nuôi tôm của anh Huỳnh Út Nhỏ, ấp Hoàng Lân, xã Tân Hưng Đông, tỉnh Cà Mau

 

Giữ ao nuôi ổn định giữa áp lực chi phí và dịch bệnh

Dàn quạt nước vận hành liên tục giữa cái nắng gay gắt là hình ảnh quen thuộc tại các vùng nuôi tôm công nghiệp tại mảnh đất Cà Mau. Gắn bó với nghề hơn 13 năm, anh Út Nhỏ cho biết, để có được cơ ngơi hiện tại là cả quá trình nhiều lần trả giá bằng thất bại.

Từ nuôi ao đất truyền thống đến mô hình công nghệ cao, anh đã trải qua nhiều áp lực về vốn, kỹ thuật và dịch bệnh. Theo anh, nghề nuôi tôm hiện nay không còn đặt nặng việc tăng mật độ hay sản lượng bằng mọi giá, mà quan trọng nhất là kiểm soát rủi ro để giữ ao nuôi an toàn đến cuối vụ.

Những năm gần đây, người nuôi tôm chịu áp lực kép từ chi phí sản xuất tăng cao và thị trường tiêu thụ thiếu ổn định. Giá thức ăn, điện và vật tư đầu vào đồng loạt tăng, trong khi giá tôm thương phẩm biến động mạnh, khiến biên lợi nhuận ngày càng thu hẹp. Riêng chi phí vận hành tại trại của anh đã tăng khoảng 15% so với trước.

Tuy nhiên, thách thức lớn nhất vẫn là sự biến động môi trường và nguy cơ dịch bệnh. Khu nuôi của gia đình anh sử dụng nguồn nước từ Kênh Ráng, thuận lợi cho sản xuất nhưng rất nhạy cảm với thời tiết. Mùa nắng, độ mặn có thể lên tới 35‰, nhưng sang mùa mưa lại giảm nhanh do nước ngọt đổ về, khiến môi trường ao nuôi biến động đột ngột.

Theo anh Út Nhỏ, giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 8 là thời điểm áp lực nhất. Kinh nghiệm rút ra sau nhiều vụ nuôi thất bại, đặc biệt sau đợt dịch EHP – Enterocytozoon hepatopenaei bùng phát vài năm trước, là không nên chạy theo mật độ cao. Thay vào đó, nuôi thưa hơn giúp dễ kiểm soát môi trường và giảm rủi ro.

“Nuôi tôm bây giờ phải biết điểm dừng. Quan trọng không phải thả thật nhiều, mà là giữ môi trường ổn định để con tôm khỏe từ đầu đến cuối vụ”, anh chia sẻ.

Anh Huỳnh Út Nhỏ bên ao nuôi

 

Nuôi tôm cỡ lớn để gia tăng lợi nhuận

Ban đầu anh Út Nhỏ nuôi tôm trong ao đất, sau một thời gian mới chuyển sang ao lót bạt và từng bước mở rộng quy mô. Năm 2019, anh bắt đầu áp dụng mô hình TLSS của Long Thăng. Theo anh, so với cách nuôi trước đây, mô hình này mang lại hiệu quả cao hơn nhiều, đồng thời vận hành cũng đơn giản và thuận tiện hơn. Lý do, theo anh, rất thực tế: “Mô hình này chi phí thấp hơn, dễ vận hành hơn mà lợi nhuận lại cao hơn”.

Từ 2 ao nuôi ban đầu, anh đầu tư mở rộng lên 4 ao với tổng diện tích hơn 3 ha. Tổng vốn đầu tư hơn 2 tỷ đồng, bao gồm ao nuôi, ao lắng, khu xử lý nước và hệ thống vận hành tự động.

Điểm khác biệt lớn nhất của mô hình TLSS nằm ở tư duy tổ chức hệ thống nuôi. Nếu mô hình truyền thống dành phần lớn diện tích cho ao nuôi, thì TLSS lại ưu tiên diện tích cho ao chứa và xử lý nước.

Với anh Út Nhỏ, điều quan trọng nhất của mô hình này không chỉ là công nghệ, mà là tính ổn định trong thực tế sản xuất. “Khó thì cũng có cái khó, nhưng cái nào khó quá mình nhờ anh em kỹ thuật của Long Thăng hỗ trợ. Quan trọng là dễ vận hành, dễ kiểm soát”.

Theo anh, trong bối cảnh hiện nay, nuôi tôm nếu chỉ thu hoạch ở cỡ khoảng 50 con/kg thì gần như chỉ hòa vốn. Muốn có lãi thực sự, người nuôi phải đưa được tôm xuống size 20 con/kg, hoặc thấp hơn. “Tôm càng lớn thì giá trị càng cao. Nhưng khó ở chỗ nuôi tới cỡ đó không phải dễ”, anh nói. Chính vì vậy, thay vì chạy theo mật độ cao để lấy sản lượng, anh chọn hướng nuôi vừa phải nhằm giữ môi trường ổn định.

Tôm giống sau khi thả được ương mật độ cao khoảng 600 con/m² trong ao gièo. Sau 30 – 40 ngày mới san thưa sang ao nuôi thương phẩm, với mật độ trung bình khoảng 100 – 120 con/m². Theo anh Út Nhỏ, nuôi thưa giúp giảm áp lực môi trường, hạn chế dịch bệnh, giảm chi phí thuốc và tăng khả năng đưa tôm về size lớn.

Tôm nuôi tại farm của anh Út Nhỏ

Một trong những vụ nuôi đáng nhớ nhất của anh đạt size 17 con/kg, mang lại cho gia đình anh lợi nhuận khoảng 800 – 900 triệu đồng. “Size lớn thì tôm khỏe, ít hao hụt lai rai nên giữ được đầu tấn. Tiền thuốc cũng giảm”, anh cho biết thêm.

Nhờ kiểm soát môi trường tốt, hệ số FCR tại trại nuôi luôn duy trì quanh mức 1,3 – 1,35, có vụ xuống tới 1,1 – mức được xem là khá tốt trong nuôi tôm công nghiệp hiện nay. Dù thị trường năm 2025 biến động mạnh, tổng lợi nhuận gia đình anh thu được vẫn đạt khoảng 3 tỷ đồng.

Trong mùa nắng nóng, chi phí sản xuất tăng đáng kể do nhu cầu sử dụng điện nhiều hơn, trong khi giá thức ăn cũng biến động theo chiều hướng tăng. Ngược lại, giá tôm thương phẩm lại giảm, khiến lợi nhuận bị thu hẹp. Tuy nhiên, theo anh, nếu quản lý tốt để nuôi tôm đạt cỡ lớn thì vẫn có lãi, chỉ là mức lợi nhuận không còn cao như trước.

Hiện farm nuôi của anh Huỳnh Út Nhỏ đang áp dụng mô hình TLSS, cho hiệu quả thành công nhiều vụ liên tiếp

 

Kiểm soát môi trường nước để giảm áp lực dịch bệnh

Trong nghề nuôi tôm, anh Út Nhỏ luôn đặt phòng bệnh lên hàng đầu. Theo anh, khi tôm đã mắc bệnh, khả năng cứu thành công không cao, trong khi chi phí xử lý lại rất lớn. “Nếu tôm lớn mà bị bệnh thì thu luôn. Tôm nhỏ quá thì hủy ao. Chứ điều trị nhiều khi tiền mất tật mang”, anh chia sẻ. Vì vậy, thay vì phụ thuộc vào kháng sinh, anh ưu tiên kiểm soát môi trường ao nuôi ngay từ đầu.

Mỗi ngày, các chỉ tiêu môi trường như chất lượng nước, khí độc và mật độ tảo đều được theo dõi chặt chẽ. Khi phát hiện nước có dấu hiệu bất thường hoặc tảo phát triển quá mức, giải pháp ưu tiên là thay nước, tăng oxy và bổ sung vi sinh để nhanh chóng ổn định môi trường.

Để duy trì chất lượng nước ổn định, anh hiện kết hợp các chế phẩm sinh học, men vi sinh cùng giải pháp hỗ trợ gây màu nước như LA RAINBOW. Theo ghi nhận thực tế, các giải pháp này giúp màu nước ổn định hơn, hạn chế hiện tượng nước lợn cợn, đồng thời giúp tôm có màu sắc sáng và hoạt động linh hoạt hơn. Khi xuất hiện tảo, anh Út Nhỏ xử lý bằng LA Bio kết hợp thay nước, nhằm kiểm soát môi trường ao nuôi.

Anh cho biết, ở giai đoạn đầu sau thả giống, các giải pháp gây màu và vi sinh đặc biệt quan trọng, vì giúp tôm thích nghi tốt hơn với môi trường mới. Tuy nhiên, điều cốt lõi không nằm ở việc sử dụng bao nhiêu sản phẩm, mà là hiểu rõ ao nuôi đang cần gì. “Khi tôm lớn rồi thì chủ yếu giữ màu nước tự nhiên. Làm sao nước trong, không lợn cợn là được”, anh nói.

Kinh nghiệm thực tế này cũng phù hợp với nhận định của anh Nguyễn Quốc Cường, Trưởng phòng Kỹ thuật mảng Tôm khu vực miền Tây của Tập đoàn Thăng Long. Theo anh Cường, khí độc trong ao nuôi chủ yếu phát sinh từ chất hữu cơ như phân tôm, xác tảo và thức ăn dư thừa. Do đó, nguyên tắc quan trọng nhất là loại bỏ sớm các chất hữu cơ và chủ động thay nước khi cần.

Bên cạnh đó, hệ vi sinh có lợi đóng vai trò duy trì sự ổn định sinh học trong ao, hạn chế biến động môi trường và giảm đầu hoặc khi nước quá trong, việc tạo màu nước cũng rất cần thiết để hạn chế ánh sáng xuyên sâu xuống đáy ao. Điều này góp phần giảm nguy cơ bùng phát tảo độc, đồng thời giúp tôm giảm stress và phát triển ổn định hơn.

Farm nuôi hiện tại sử dụng các chế phẩm sinh học từ Long Thăng 

 

Long Thăng: Đồng hành kỹ thuật để chủ động trước rủi ro

Hiện nay, toàn bộ hệ thống cho ăn, quạt nước và cấp oxy tại trại của anh Út Nhỏ đều được tự động hóa, giúp giảm đáng kể nhân công và nâng cao hiệu quả quản lý. Tuy nhiên, theo anh, công nghệ chỉ là công cụ hỗ trợ, còn hiệu quả của mỗi vụ nuôi vẫn phụ thuộc vào kinh nghiệm và khả năng quan sát của người nuôi.

Dù đã có hơn 13 năm gắn bó với nghề, anh vẫn duy trì thói quen tham quan các mô hình nuôi trong và ngoài khu vực để học hỏi kinh nghiệm. Theo anh, mỗi vùng nuôi, mỗi vụ nuôi đều có những điều kiện khác nhau, vì vậy người nuôi cần liên tục cập nhật kỹ thuật và điều chỉnh quy trình cho phù hợp với thực tế.

Bên cạnh kinh nghiệm của bản thân, anh cũng đánh giá cao sự đồng hành của đội ngũ kỹ thuật Long Thăng trong suốt quá trình sản xuất. Tại trang trại của anh, đội ngũ kỹ thuật của Long Thăng thường xuyên hỗ trợ từ khâu thiết kế hệ thống ao nuôi, theo dõi chất lượng nước, phân tích mẫu đến tư vấn giải pháp xử lý khi phát sinh sự cố. “Khi cần là đội ngũ kỹ thuật của công ty vô hỗ trợ liền. Từ đầu tới cuối vụ luôn”, anh chia sẻ.

Đội ngũ kỹ thuật nhân viên Long Thăng đồng hành kỹ thuật cùng người nuôi ngay từ đầu vụ

 

Theo anh Út Nhỏ, giá trị lớn nhất của sự đồng hành không chỉ nằm ở các giải pháp kỹ thuật, mà còn ở việc kịp thời chia sẻ kinh nghiệm thực tế, giúp người nuôi đưa ra quyết định phù hợp trong từng giai đoạn của vụ nuôi, đặc biệt khi thời tiết và môi trường liên tục biến động.

Thực tế cho thấy, trong bối cảnh chi phí đầu vào tăng, dịch bệnh diễn biến phức tạp và yêu cầu về chất lượng sản phẩm ngày càng cao, hiệu quả của một vụ nuôi không còn phụ thuộc vào mật độ thả giống hay sản lượng thu hoạch, mà nằm ở khả năng quản lý môi trường, kiểm soát rủi ro và ứng dụng đúng các giải pháp kỹ thuật. Đây cũng là hướng đi đang được nhiều người nuôi tôm lựa chọn để nâng cao hiệu quả sản xuất và phát triển bền vững.

Sau hơn một thập kỷ gắn bó với nghề, điều anh Út Nhỏ tích lũy được không chỉ là kỹ thuật nuôi hay kinh nghiệm xử lý sự cố, mà còn là sự thận trọng trước mỗi quyết định. Với anh, một vụ nuôi thành công không được đo bằng mật độ thả hay sản lượng thu hoạch, mà bằng khả năng giữ môi trường ổn định, hạn chế rủi ro và đưa đàn tôm khỏe mạnh đến ngày thu hoạch. Đó cũng là hướng đi mà ngày càng nhiều người nuôi lựa chọn trong bối cảnh nghề nuôi tôm đang đối mặt với không ít thách thức.

Phương Nhung

Xem thêm:

Anh Phạm Đức Ngà (Cà Mau): Thành công nhờ mô hình nuôi tôm chuẩn an toàn sinh học

Mô hình nuôi tôm TLSS: Giải pháp nuôi tôm hiệu quả của Công ty TNHH Quốc tế Long Thăng