[Người Nuôi Tôm] – Lauric acid và N-acetyl-L-cysteine được kỳ vọng cải thiện miễn dịch và chống oxy hóa cho tôm thẻ chân trắng nuôi ở mật độ cao.

Bố sung NAC và LA (0,2%) vào chế độ ăn của tôm thẻ chân trắng ó thể tăng cường khả năng tăng trưởng, chống oxy hóa và phản ứng miễn dịch
Lauric acid (LA) – một acid béo chuỗi trung bình có nhiều trong dầu dừa, dầu cọ và ấu trùng ruồi lính đen – được biết đến với khả năng kháng khuẩn, kháng virus, ức chế hình thành màng sinh học và tăng cường hoạt tính chống oxy hóa. LA hoạt hóa các thụ thể miễn dịch bẩm sinh như TLR-2, góp phần khởi phát đáp ứng viêm qua con đường NF-kB. Tuy đã được nghiên cứu trên gia cầm và cá, nhưng vai trò của LA trong cải thiện miễn dịch ở tôm vẫn chưa được khảo sát.
Song song, stress do thiếu oxy trong hệ thống nuôi dày làm suy giảm miễn dịch và tạo điều kiện hình thành các gốc oxy tự do (ROS), gây tổn thương tế bào. NAC (N-acetyl-L-cysteine) là chất chống oxy hóá tổng hợp có khả năng trung hòà ROS và giảm tổn thương lipid màng tế bào. NAC đã chứng minh hiệu quả trong nhiều đối tượng nuôi như cá chép, cá rô phi, cá hồi, cua lông Trung Quốc….
Dựa trên những đặc tính trên, nghiên cứu của Đại học Purdue Fort Wayne (Fort Wayne, Indiana, Hoa Kỳ) được thực hiện nhắm đánh giá khả năng của LA và NAC trong việc cải thiện miền dịch và chồng oxy hóa cho tôm thẻ nuôi mật độ cao, qua đó đánh giá tiềm năng sử dụng chúng làm phụ gia thức ăn ở quy mô thương mại.
Thiết kế thí nghiệm và chế độ ăn
Bốn khẩu phần ăn được chuẩn bị: D1 (đối chứng, không bổ sung), D2 (bổ sung axit lauric – LA), D3 (bổ sung N-acetyl-L- cysteine – NAC) và D4 (bổ sung cả LA và NAC). LA (2g) được hòa tan trong ethanol (>98%), còn NAC (2g) được pha trong nước khử ion, sau đó phun lên 1 kg thức ăn thương mại (40% đạm, viên 2 mm), để khô qua đêm và bảo quản ở 4°C. Đối chứng (D1) chỉí được phun ethanol và nước tương ứng. Tôm giống (trọng lượng trung bình 0,65g) được nuôi thích nghi hai tuần trong bể 100 gallon trước khi bố trí vào 15 bể thử nghiệm (5 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức 3 lặp). Mật độ thả được thiết lập tương đương mô hình nuôi thâm canh, với số lượng tôm bổ sung để bù hao hụt do chết tự nhiên. Tôm được cho ăn 4 lần/ngày. Thí nghiệm kéo dài 8 tuần. Các chỉ tiêu môi trường nước như nhiệt độ (27 – 28°C), độ mặn (8%o), pH (8.1) và oxy hòa tan (77 – 82%) được theo dõi hàng ngày. Amoniac, nitrit, nitrat đều năm dưới ngưỡng phát hiện. Các công việc thu mẫu phân tích bao gồm: Lấy mẫu huyết dịch và mô; tách RNA và phân tích biểu hiện gen bằng RT-qPCR; xác định hàm lượng MDA…
Kết quả
Tăng trưởng
Tăng trọng cao hơn được ghi nhận ở các nghiệm thức T3, T4 và T5, trong đó T4 đạt giá trị cao nhất (Bảng 1). Hệ số điều kiện (condition factor) khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức (p<0.05) và đều nhỏ hơn 1.00. Hệ số chuyển hóa thức ăn (FCR) ở tất cả các nghiệm thức đều dưới 1.00. Các chỉ tiêu sinh lý bao gồm tổng protein, glucose huyết tương, tổng số lượng hemocyte và chỉ số thực bào (PI) cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa (p<0.05) giữa các nghiệm thức, với giá trị cao hơn được ghi nhận ở T3, T4 và T5. Trong đó, T4 thể hiện giá trị cao nhất ở tất cả các chỉ tiêu này.

Bảng 1: Chi tiết về các thông số tăng trưởng khác nhau, glucose, tổng protein, tổng số tế bào máu và chỉ số thực bào vào cuối thử nghiệm
Tr: treatment, TBW: total body weight, TP: total protein, THC: total hemocytes count, FCR: feed conversion ratio, Pl: phagocytic index, K: condition factor
Biểu hiện gen chống oxy hóa và đáp ứng miễn dịch
Nồng độ MDA cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức (p<0.05; Hình 1A), tuy nhiên T4 và T5 không khác biệt rõ rệt và được xếp cùng một nhóm. MDA giảm đáng kể ở các nghiệm thức bổ sung NAC (T4 và T5) so với nghiệm thức đối chứng mật độ cao không bổ sung (HSD). Biểu hiện của tất cả các gen liên quan đến chống oxy hóa và miễn dịch cũng cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa giữa các nghiệm thức (p<0.05; Hình 1B-1F). Cụ thể, mức biểu hiện của SOD giảm đáng kể ở các nghiệm thức bổ sung NAC (T4) và kết hợp NAC+LA (T5) so với T2 (Hình 1B). Tương tự, biểu hiện của GPX cũng thấp nhất ở T4 (p<0.05; Hình 1C).
Ngược lại, biểu hiện của LYS tăng rõ rệt ở các nghiệm thức có bổ sung NAC (T4) và NAC+LA (T5) (Hình 1D). Biểu hiện cao nhất của TLR-2 được ghi nhận ở T4 và T5 (Hình 1E). Đối với PPOD, có xu hướng tăng dần từ T3 đến T5, với giá trị cao nhất được ghi nhận ở nghiệm thức kết hợp NAC vÀ LA (T5) (Hình 1F). Các nghiệm thức không được bố sung phụ gia sinh học (T1 – LSD control và T2 – HSD control) thể hiện mức biểu hiện gen thấp nhất trong tất cả các chỉ tiêu được phân tích.

Hình 1. Nồng độ malondialdehyde (MDA) trong máu được đo bằng ELISA (a). Biểu hiện tương đối của mRNA của superoxide dismutase (SOD) (b), lysozyme (LYS) (c), glutathione peroxidase (GPX) (d), thụ thể giống toll-2 (TLR- 2) (e) và prophenolperoxidase (PPOD) (f) trong bốn phương pháp xử lý khác nhau (T1, mật độ thả thấp, T2, mật độ thả cao, T3: axit lauric, T4: N-acetylcysteine, T5: axit lauric + N-acetylcysteine.
Những phát hiện của nghiên cứu hiện tại khẳng định rằng việc bổ sung NAC và LA (0,2%) vào chế độ ăn của tôm thẻ chân trắng có thể tăng cường khả năng tăng trưởng, chống oxy hóa và phản ứng miễn dịch. Cần phải nghiên cứu thêm để xác định liều lượng tối ưu ở mật độ thả nuôi cao hơn có thể hiệu quả hơn đối với các tác nhân gây bệnh nuôi trồng thủy sản phổ biến. Thật không may, do hạn chế sử dụng vi khuẩn gây bệnh trong phòng thí nghiệm, nghiên cứu hiện tại không thể đưa các phương pháp xử lý vào cảm nhiễm với vi khuẩn độc lực. Các nghiên cứu trong tương lai có thể khám phá những khía cạnh này, điều này sẽ có lợi trong việc tăng cường phản ứng chống oxy hóa và miễn dịch của tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương trong nuôi thâm canh.
ThS. Lê Xuân Chinh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam
- phụ gia li>
- tôm thẻ chân trắng li> ul>
- Công nghệ mở đường nâng giá trị tôm Việt, phúc lợi trở thành yêu cầu mới
- Tôm càng xanh Cà Mau tìm lối ra thị trường quốc tế
- Mô hình nuôi tôm nhiều giai đoạn (TLSS): Chìa khóa thành công cho vụ mùa thắng lợi
- Xuất khẩu tôm hướng tới gây choáng trước khi giết mổ
- Xử lý triệt để nấm và vi khuẩn có hại trong ao nuôi tôm giống và tôm thịt
- Quy trình kiểm dịch tôm hùm giống nhập khẩu: Cụ thể hóa từng bước để bảo vệ ngành nuôi
- Khai mạc Vietfish 2026: Đẩy mạnh “xanh hóa” thủy sản để chinh phục mốc xuất khẩu 12 tỷ USD
- Nuôi tôm Cà Mau: Khi công nghệ quyết định ranh giới được – mất
- Hà Tĩnh: Giá tôm giảm 15-25%, người nuôi chịu áp lực lớn về chi phí
- Vĩnh Long đẩy mạnh nuôi thủy sản công nghệ cao, sản lượng thu hoạch vượt 177.500 tấn
Tin mới nhất
T6,21/08/2026
- Công nghệ mở đường nâng giá trị tôm Việt, phúc lợi trở thành yêu cầu mới
- Tôm càng xanh Cà Mau tìm lối ra thị trường quốc tế
- Mô hình nuôi tôm nhiều giai đoạn (TLSS): Chìa khóa thành công cho vụ mùa thắng lợi
- Xuất khẩu tôm hướng tới gây choáng trước khi giết mổ
- Nuôi tôm thời giá biến động: Lấy hiệu quả làm lợi thế
- Xử lý triệt để nấm và vi khuẩn có hại trong ao nuôi tôm giống và tôm thịt
- Giá tôm ngày 20/8: Mặt bằng thấp, chưa đáp ứng kỳ vọng người nuôi
- Quy trình kiểm dịch tôm hùm giống nhập khẩu: Cụ thể hóa từng bước để bảo vệ ngành nuôi
- Khai mạc Vietfish 2026: Đẩy mạnh “xanh hóa” thủy sản để chinh phục mốc xuất khẩu 12 tỷ USD
- Giá tôm ngày 19/8: Nhiều cỡ tôm tăng nhẹ, thị trường phân hóa theo kích cỡ
- Công nghệ mở đường nâng giá trị tôm Việt, phúc lợi trở thành yêu cầu mới
- Tôm càng xanh Cà Mau tìm lối ra thị trường quốc tế
- Xuất khẩu tôm hướng tới gây choáng trước khi giết mổ
- Quy trình kiểm dịch tôm hùm giống nhập khẩu: Cụ thể hóa từng bước để bảo vệ ngành nuôi
- Nuôi tôm Cà Mau: Khi công nghệ quyết định ranh giới được – mất
- Hà Tĩnh: Giá tôm giảm 15-25%, người nuôi chịu áp lực lớn về chi phí
- Vĩnh Long đẩy mạnh nuôi thủy sản công nghệ cao, sản lượng thu hoạch vượt 177.500 tấn
- Ngành tôm Thái Lan phục hồi sau khủng hoảng EMS nhờ đẩy mạnh công nghệ
- Khai mạc Vietfish 2026: Đẩy mạnh “xanh hóa” thủy sản để chinh phục mốc xuất khẩu 12 tỷ USD
- Việt Nam và Australia công bố chiến lược hợp tác nghiên cứu nông nghiệp 10 năm: Hướng tới chuyển đổi xanh và ứng phó biến đổi khí hậu
- Khánh thành Nhà máy sản xuất thức ăn thủy sản Cà Mau – C.P. Việt Nam
- Phê duyệt kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học, thúc đẩy đổi mới lĩnh vực chăn nuôi, thú y và thủy sản
- Nghị định số 246/2026/NĐ-CP: Siết chặt quản lý chuỗi giá trị thủy sản
- Giải pháp toàn diện kiểm soát mầm bệnh, phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững
- Trường Đại học Nha Trang đăng cai Hội nghị Nuôi trồng Thủy sản châu Á – Thái Bình Dương 2027
- Giá bao bì nhựa gia tăng, tạo “gánh nặng kép” cho doanh nghiệp thủy sản
Các ấn phẩm đã xuất bản
- Công nghệ mở đường nâng giá trị tôm Việt, phúc lợi trở thành yêu cầu mới
- Xuất khẩu tôm hướng tới gây choáng trước khi giết mổ
- Nuôi tôm thời giá biến động: Lấy hiệu quả làm lợi thế
- Giá tôm ngày 20/8: Mặt bằng thấp, chưa đáp ứng kỳ vọng người nuôi
- Giá tôm ngày 19/8: Nhiều cỡ tôm tăng nhẹ, thị trường phân hóa theo kích cỡ
- Hà Tĩnh: Giá tôm giảm 15-25%, người nuôi chịu áp lực lớn về chi phí
- Vĩnh Long đẩy mạnh nuôi thủy sản công nghệ cao, sản lượng thu hoạch vượt 177.500 tấn
- Giá tôm ngày 18/8: Đà giảm chững lại, nhiều cỡ tôm tăng trở lại
- Ngành tôm Thái Lan phục hồi sau khủng hoảng EMS nhờ đẩy mạnh công nghệ
- Giá tôm ngày 17/8: Tôm thẻ tiếp tục phân hóa, nhiều cỡ tôm ngâm giảm giá
- Xử lý triệt để nấm và vi khuẩn có hại trong ao nuôi tôm giống và tôm thịt
- An toàn sinh học: Giải pháp then chốt cho bài toán dịch bệnh thủy sản
- Sử dụng sóng siêu âm để tính sinh khối ao nuôi tôm
- Máy sưởi ngâm: Cách mạng hóa nghề nuôi tôm ở Việt Nam
- Waterco: Giải pháp thiết bị hàng đầu trong nuôi trồng thủy sản
- GROSHIELD: “Trợ thủ đắc lực” giúp tôm đề kháng vững vàng hàng ngày, sẵn sàng về đích
- Năm mới, nỗi lo cũ: “Làm sao để tăng cường đề kháng cho tôm?”
- Vi sinh: Giải pháp mục tiêu toàn diện
- Grobest Việt Nam: Tiên phong ra mắt sản phẩm thức ăn chức năng hàng ngày Groshield, nâng cao tối đa sức đề kháng, hướng đến những vụ tôm về đích thành công trong năm tới
- Solagron Vietnam: Nhà sản xuất vi tảo công nghiệp đầu tiên mang dấu ấn Việt Nam













