Ngành tôm: Đẩy mạnh số hóa quản lý con giống

[Người Nuôi Tôm] – Ngành tôm Việt Nam đang đối mặt với hai thách thức lớn: Dịch bệnh ngày càng phức tạp và sự phụ thuộc kéo dài vào nguồn tôm bố mẹ nhập khẩu.

Tại hội thảo “Quản lý sức khỏe và nâng cao chất lượng giống tôm nước lợ tại Việt Nam” diễn ra ngày 05/6/2026 tại Khánh Hòa, các chuyên gia đã phân tích những tồn tại của ngành, đồng thời đề xuất giải pháp hướng tới mục tiêu tự chủ 80% nhu cầu tôm bố mẹ và đáp ứng 100% nhu cầu giống tôm nước lợ trong nước vào năm 2030.

Cục Thủy sản và Kiểm ngư đề xuất tăng cường hiệu quả công tác kiểm dịch và kiểm soát vận chuyển tôm giống

 

Dịch bệnh ngày càng phức tạp

Dưới tác động của biến đổi khí hậu, chất lượng môi trường nước suy giảm và hoạt động nuôi thâm canh ngày càng cao. Nhiều loại mầm bệnh trên tôm có xu hướng biến đổi, gia tăng độc lực. Đặc biệt xuất hiện hiện tượng đồng nhiễm nhiều tác nhân cùng lúc.

Tại hội thảo, PGS.TS Võ Văn Nha, Phó Giám đốc Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam cho biết, thay vì chỉ mắc một bệnh riêng lẻ như trước đây, tôm nuôi hiện nay thường nhiễm đồng thời nhiều loại vi khuẩn, virus hoặc ký sinh trùng. Điều này khiến việc chẩn đoán và xử lý trở nên khó khăn hơn, làm tăng chi phí sản xuất và giảm hiệu quả nuôi.

Theo kết quả giám sát thực địa giai đoạn 2025–2026, bốn bệnh nguy hiểm đang tác động lớn đến nghề nuôi tôm gồm vi bào tử trùng (EHP), đốm trắng (WSSV), hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND) và mờ đục hậu ấu trùng (TPD). Trong đó, EHP, WSSV và AHPND đều phổ biến với mức độ ảnh hưởng cao, riêng WSSV được đánh giá có tác động rất cao, trong khi TPD là bệnh mới nổi đang có xu hướng gia tăng.

EHP hiện là một trong những bệnh gây thiệt hại kinh tế lớn nhất do ký sinh ở gan tụy, làm tôm chậm lớn, phân đàn và kéo dài thời gian nuôi. Giai đoạn 2024–2025, tỷ lệ nhiễm EHP tại Đồng bằng sông Cửu Long dao động 25–34,4%, tại một số tỉnh phía Bắc đạt 11–27%. Đáng lưu ý, EHP thường xuất hiện cùng vi khuẩn Vibrio spp., làm tăng nguy cơ bùng phát hội chứng phân trắng.

Bệnh đốm trắng do virus WSSV vẫn là mối đe dọa thường trực do khả năng lây lan nhanh và gây chết hàng loạt, đặc biệt trong giai đoạn giao mùa từ tháng 2 đến tháng 5 tại các tỉnh phía Bắc. Trong khi đó, AHPND do các chủng Vibrio mang độc tố pira/pirb gây ra, chủ yếu tấn công tôm 10–45 ngày tuổi, với tỷ lệ nhiễm ghi nhận 3,1–5,2% tại Cà Mau và đã xuất hiện ở nhiều địa phương khác.

Các chuyên gia cũng cảnh báo việc lạm dụng kháng sinh trong phòng trị bệnh không mang lại hiệu quả bền vững, đồng thời làm gia tăng nguy cơ vi khuẩn kháng thuốc. Bên cạnh đó, TPD đang nổi lên như một thách thức mới đối với ngành sản xuất giống, gây hao hụt trên 90% ở giai đoạn hậu ấu trùng (PL4–PL7). Các nghiên cứu bước đầu đã phát hiện các loài Vibrio parahaemolyticus, Vibrio alginolyticus Vibrio harveyi mang gen độc lực liên quan đến bệnh tại nhiều địa phương như Thanh Hóa, Quảng Ninh, Cần Thơ và Cà Mau.

 

Nguồn tôm bố mẹ là nút thắt lớn nhất

Bên cạnh dịch bệnh, các chuyên gia cho rằng nút thắt lớn nhất của ngành tôm hiện nay nằm ở việc chưa chủ động được nguồn tôm bố mẹ trong nước.

Theo báo cáo của Cục Thủy sản và Kiểm ngư, tổng nhu cầu tôm bố mẹ hàng năm của cả nước khoảng 260.000 con. Lượng nhập khẩu đã giảm từ 165.110 con năm 2021 xuống còn 112.450 con năm 2025. Trong khi đó, sản xuất trong nước tăng từ 24.110 con lên 45.100 con.

Khai thác tự nhiên duy trì ổn định quanh mức 32.000 35.000 con mỗi năm. Riêng năm 2025, nhập khẩu chiếm khoảng 112,45 nghìn con, tương đương 59% tổng nhu cầu. Sản xuất trong nước đạt 45,1 nghìn con (khoảng 24%) và khai thác tự nhiên là 32,3 nghìn con (khoảng 17%).

Hiện, phần lớn tôm bố mẹ phục vụ sản xuất giống vẫn phải nhập khẩu từ các dòng tôm có nguồn gốc từ Hoa Kỳ như Hawaii hoặc EIL. Sự phụ thuộc này khiến doanh nghiệp sản xuất giống gặp nhiều rủi ro về chi phí, nguồn cung và khả năng chủ động kế hoạch sản xuất.

Mặc dù đã có nhiều chương trình nghiên cứu trong nhiều năm qua, việc chọn tạo thành công dòng tôm bố mẹ chất lượng cao trong nước vẫn chưa đạt kết quả như kỳ vọng. Điều này khiến mục tiêu tự chủ 80% nguồn tôm bố mẹ vào năm 2030 đối mặt với nhiều thách thức.

Ngoài câu chuyện nguồn gen, nhiều bất cập về hạ tầng sản xuất giống cũng được chỉ ra. Cả nước hiện có 1.910 cơ sở sản xuất, ương dưỡng giống tôm nước lợ tính đến năm 2025. Con số này giảm so với 2.063 cơ sở của năm 2021, phản ánh xu hướng tái cơ cấu, tập trung vào các cơ sở quy mô lớn.

Sản lượng giống đạt 167,58 tỷ con, trong đó tôm thẻ chiếm 116,89 tỷ và tôm sú chiếm 50,69 tỷ. Chỉ có 83 cơ sở được cấp Giấy chứng nhận an toàn dịch bệnh (Trung ương cấp 5, địa phương cấp 78). Ba tỉnh trọng điểm chiếm khoảng 62,8% số cơ sở và 82,6% sản lượng giống.

Tại một số vùng sản xuất tập trung, hệ thống cấp và thoát nước chưa được tách biệt hoàn toàn, làm tăng nguy cơ lây lan mầm bệnh giữa các cơ sở. Tình trạng nuôi cá, hàu, ngao và các đối tượng thủy sản khác xen kẽ gần khu vực lấy nước của các trại giống cũng tạo áp lực lớn lên môi trường. Nước thải chưa xử lý triệt để có thể làm gia tăng mật độ vi khuẩn gây bệnh trong khu vực sản xuất.

Khâu vận chuyển và phân phối con giống cũng là mắt xích dễ phát sinh rủi ro. Dù nhiều doanh nghiệp lớn áp dụng quy trình an toàn sinh học nghiêm ngặt tại cơ sở sản xuất, việc vận chuyển đường dài có thể khiến con giống bị sốc môi trường, làm tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh.

Đại diện Trung tâm Khuyến nông tỉnh Vĩnh Long cho rằng, người nuôi hiện vẫn phải chịu chi phí đầu vào cao do qua nhiều khâu trung gian. Trong khi đó, nguy cơ mua phải giống kém chất lượng hoặc không rõ nguồn gốc vẫn còn phổ biến.

 

Đẩy mạnh số hóa quản lý con giống

Trước những thách thức trên, các đại biểu tham dự hội thảo thống nhất rằng, ngành tôm cần thay đổi cách tiếp cận từ xử lý dịch bệnh sang phòng ngừa chủ động. Cách tiếp cận mới dựa trên an toàn sinh học và ứng dụng công nghệ.

Theo định hướng giai đoạn 2026–2030, ngành thủy sản sẽ đẩy mạnh số hóa quản lý con giống. Hệ thống mã số cơ sở sản xuất, mã đàn tôm bố mẹ và mã lô giống sẽ được triển khai.

Mục tiêu đến năm 2030 là 100% cơ sở sản xuất, ương dưỡng được số hóa dữ liệu và quản lý trên nền tảng số. 100% lô tôm bố mẹ và tôm giống được truy xuất nguồn gốc. Hệ thống dữ liệu tập trung sẽ kết nối từ Trung ương đến địa phương.

Việc xây dựng hồ sơ điện tử sẽ giúp tăng khả năng truy xuất nguồn gốc, tạo sự minh bạch cho toàn chuỗi sản xuất. Các cơ sở sản xuất giống được khuyến cáo kiểm soát nghiêm ngặt các bệnh nguy hiểm như WSSV, AHPND, EHP và TPD bằng kỹ thuật xét nghiệm hiện đại trước khi xuất bán.

Theo hướng dẫn của Cục Thủy sản và Kiểm ngư, cơ sở đăng ký an toàn dịch bệnh phải có kế hoạch an toàn sinh học, kế hoạch giám sát dịch bệnh và kế hoạch ứng phó dịch bệnh. Tần suất lấy mẫu giám sát tối thiểu 2 lần trong 12 tháng đối với cơ sở đăng ký an toàn dịch bệnh. Đối với cơ sở duy trì điều kiện, tần suất tối thiểu 1 lần trong 12 tháng. Xét nghiệm phải thực hiện tại phòng thử nghiệm được công nhận hoặc chỉ định. Đối với người nuôi thương phẩm, các chuyên gia khuyến nghị sử dụng giống đạt chuẩn SPF (sạch bệnh), lựa chọn mật độ nuôi phù hợp và tăng cường các biện pháp an toàn sinh học.

Để ngăn ngừa mầm bệnh xâm nhập, phát tán và giảm thiểu thiệt hại kinh tế, các trại giống cần tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc nhận diện và kiểm soát mối nguy ngay từ khâu thiết kế xây dựng. Trước hết, mặt bằng trại phải bố trí thành các khu vực riêng biệt bao gồm khu tôm bố mẹ, khu ương ấu trùng, khu xử lý nước, khu cách ly và khu xử lý chất thải. Hệ thống cấp và thoát nước phải thiết lập riêng, tuyệt đối không dùng chung nước cấp với nước thải và toàn bộ nguồn nước phải được xử lý triệt để trước khi cấp vào bể nuôi hoặc xả thải ra môi trường bên ngoài. Song song đó, việc kiểm soát người ra vào bằng hố sát trùng, sử dụng bảo hộ lao động riêng và hạn chế khách tham quan là bắt buộc để ngăn chặn các tác nhân lây nhiễm từ bên
ngoài.

Xu hướng sử dụng chế phẩm sinh học thay thế hóa chất và kháng sinh ngày càng được quan tâm. Các dòng vi sinh vật có lợi như Lactobacillus plantarum được sử dụng trong thức ăn giúp cải thiện hệ tiêu hóa, tăng khả năng hấp thụ dinh dưỡng và nâng cao sức đề kháng của tôm.

Về lâu dài, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và các hệ thống quan trắc môi trường tự động được kỳ vọng sẽ hỗ trợ dự báo sớm nguy cơ dịch bệnh. Điều này giúp người nuôi đưa ra quyết định kịp thời và giảm thiểu thiệt hại.

Trần Linh

ÔNG TRẦN ĐÌNH LUÂN, CỤC TRƯỞNG CỤC THỦY SẢN VÀ KIỂM NGƯ:

Chỉ đạo chiến lược về liên kết 3 nhà

Công tác kiểm tra, hậu kiểm tôm giống hiện còn thiếu kinh phí và công cụ, tạo ra khoảng trống quản lý lớn. Để đạt mục tiêu xuất khẩu 10 tỷ USD, cần định hình rõ trách nhiệm của 3 bên:

Nhà sản xuất: Phải minh bạch tuyệt đối về nguồn gốc, xuất xứ và công suất; tăng cường tập huấn an toàn sinh học để nhận diện rủi ro mầm bệnh từ sớm.

Cơ quan quản lý: Đẩy mạnh thanh tra, phòng ngừa rủi ro thông qua phối hợp liên ngành (công an, biên phòng) để ngăn chặn giống lậu, trôi nổi; nâng cao năng lực hướng dẫn kỹ thuật của cán bộ chuyên môn tại cơ sở.

Nhà khoa học: Rà soát lại các nghiên cứu, chấm dứt tình trạng đề tài thiếu thực tiễn. Tập trung giải quyết các vấn đề cấp bách như bệnh mới nổi TPD, EHP và phối hợp với các doanh nghiệp lớn triển khai hiệu quả Nghị quyết 57 về chọn tạo giống tôm bố mẹ nội địa.

ÔNG LÊ VĂN QUÊ, CHỦ TỊCH HIỆP HỘI GIỐNG THỦY SẢN KHÁNH HÒA:

Phụ thuộc tôm giống bố mẹ nhập khẩu cản trở mục tiêu tự chủ nguồn giống

Ông Lê Văn Quê, Chủ tịch Hiệp hội giống Thủy sản Khánh Hòa

Điểm nghẽn lớn nhất của ngành tôm hiện nay là chưa chủ động được nguồn tôm bố mẹ trong nước. Dù đã đầu tư nghiên cứu nhiều năm, Việt Nam vẫn phải phụ thuộc vào các dòng tôm bố mẹ nhập khẩu từ Hoa Kỳ như Hawaii và EIL, khiến doanh nghiệp sản xuất giống ở thế bị động và gây khó khăn cho mục tiêu tự chủ 80% nguồn tôm bố mẹ vào năm 2030. Bên cạnh đó, quy định cách ly tôm bố mẹ nhập khẩu 15 ngày để chờ kết quả xét nghiệm theo Thông tư 26 cũng làm gia tăng rủi ro cho doanh nghiệp. Những bất cập này cần sớm được xem xét, điều chỉnh để hỗ trợ ngành sản xuất giống phát triển bền vững.

P.V (Ghi)