Đề xuất sửa đổi một số quy định về nuôi trồng thủy sản, tạo thuận lợi cho xuất khẩu tôm

[Người Nuôi Tôm] – Dự thảo Thông tư số 33/2026/TT-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định trong lĩnh vực thủy sản, trong đó có nhiều nội dung liên quan đến nuôi trồng thủy sản. Các đề xuất tập trung vào hoàn thiện quy định về hồ sơ chứng minh nguồn gốc nguyên liệu nuôi trồng, tăng cường truy xuất nguồn gốc và đẩy mạnh số hóa thủ tục cấp chứng nhận (COA), qua đó tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu tôm và nâng cao tính minh bạch của chuỗi sản xuất tôm nước lợ, đáp ứng yêu cầu của thị trường nhập khẩu.

 

Hoàn thiện quy định về nguồn gốc nguyên liệu nuôi

Đối với ngành tôm nước lợ, việc chứng minh nguồn gốc nguyên liệu luôn là một trong những khâu quan trọng khi doanh nghiệp thực hiện các thủ tục phục vụ xuất khẩu. Vì vậy, những nội dung sửa đổi trong dự thảo Thông tư lần này được đánh giá có tác động trực tiếp đến chuỗi nuôi, chế biến và xuất khẩu thủy sản.

Đối với ngành tôm nước lợ, việc chứng minh nguồn gốc nguyên liệu luôn là một trong những khâu quan trọng khi doanh nghiệp thực hiện các thủ tục phục vụ xuất khẩu.

 

Theo dự thảo, trường hợp sử dụng nguyên liệu có nguồn gốc từ nuôi trồng thủy sản để chế biến, xuất khẩu thuộc danh sách phải cấp Chứng nhận COA, hồ sơ sẽ gồm đơn đề nghị cấp COA và một trong các giấy tờ chứng minh nguồn gốc nguyên liệu theo quy định.

Đối với nguyên liệu nuôi trong nước, dự thảo mở rộng các loại giấy tờ được sử dụng để chứng minh nguồn gốc, gồm giấy xác nhận nuôi trồng thủy sản lồng bè, giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm, cam kết sản xuất, kinh doanh thực phẩm an toàn có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền, giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện nuôi trồng thủy sản hoặc giấy chứng nhận nuôi trồng thủy sản tốt của cơ sở nuôi.

Trong khi đó, với nguyên liệu nuôi trồng thủy sản nhập khẩu, doanh nghiệp có thể sử dụng giấy chứng nhận xuất xứ (C/O), giấy chứng nhận kiểm dịch động vật đối với thủy sản sống, giấy chứng nhận an toàn thực phẩm, giấy chứng nhận cơ sở nuôi trồng, giấy đăng ký cơ sở nuôi trồng hoặc mã số cơ sở nuôi trồng thủy sản để hoàn thiện hồ sơ.

Đáng chú ý, dự thảo cũng quy định nguyên liệu có nguồn gốc từ nuôi trồng thủy sản, bao gồm nguyên liệu nuôi trong nước và nguyên liệu nhập khẩu từ các quốc gia thuộc Nhóm II theo phân loại của Hoa Kỳ, sẽ được xem xét cấp COA nếu đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về hồ sơ.

Những điều chỉnh này cho thấy định hướng hoàn thiện cơ chế chứng minh nguồn gốc nguyên liệu nuôi theo hướng rõ ràng, đồng bộ hơn, phù hợp với thực tế hoạt động của doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thủy sản.

 

Tăng yêu cầu truy xuất, thúc đẩy số hóa thủ tục

Bên cạnh việc hoàn thiện hồ sơ, dự thảo cũng dành nhiều nội dung cho việc nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc trong toàn bộ chuỗi sản xuất. Đây là yêu cầu ngày càng quan trọng đối với ngành tôm nước lợ khi các thị trường nhập khẩu đặt ra tiêu chuẩn cao hơn về tính minh bạch của chuỗi cung ứng.

Tăng yêu cầu truy xuất, thúc đẩy số hóa thủ tục (Ảnh minh họa do AI tạo)

 

Theo dự thảo, tổ chức, cá nhân đề nghị cấp COA phải kê khai đầy đủ thông tin và chịu trách nhiệm về tính chính xác của hồ sơ. Đồng thời, doanh nghiệp phải lưu giữ toàn bộ hồ sơ, tài liệu chứng minh nguồn gốc nguyên liệu tối thiểu 36 tháng kể từ ngày được cấp COA.

Đáng chú ý hơn, dự thảo yêu cầu các cơ sở thiết lập hệ thống truy xuất nguồn gốc bảo đảm theo dõi được từng nguồn nguyên liệu, từng lô nguyên liệu từ khi tiếp nhận, bảo quản, đưa vào chế biến cho đến khi xuất khẩu; đồng thời bảo đảm khả năng đối chiếu giữa hồ sơ giám sát sản xuất với thực tế hoạt động khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.

Song song với việc tăng cường quản lý, dự thảo cũng hướng tới giảm thủ tục hành chính thông qua chuyển đổi số. Theo đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ xây dựng và hướng dẫn cập nhật cơ sở dữ liệu về COA, đồng thời triển khai dịch vụ công trực tuyến toàn trình và cấp COA điện tử trên Cổng Dịch vụ công quốc gia.

Việc số hóa quy trình được kỳ vọng sẽ góp phần rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, giảm giấy tờ và nâng cao tính minh bạch trong quá trình cấp chứng nhận phục vụ xuất khẩu.

Ngoài các quy định liên quan đến hồ sơ và truy xuất nguồn gốc, dự thảo cũng sửa đổi một số nội dung về nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo đối với các loài thủy sản thuộc Phụ lục CITES và các loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm; đồng thời bổ sung quy định đối với hoạt động chế biến các đối tượng này theo hướng bảo đảm nguồn gốc hợp pháp, an toàn thực phẩm và an toàn dịch bệnh.

Đối với công tác bảo tồn biển, dự thảo yêu cầu khi điều chỉnh ranh giới, diện tích khu bảo tồn biển cấp tỉnh phải xem xét phương án chuyển đổi sinh kế cho các hộ gia đình, cá nhân có hoạt động khai thác hoặc nuôi trồng thủy sản trong phạm vi chịu tác động của việc điều chỉnh.

Có thể thấy, trọng tâm của các nội dung sửa đổi lần này là hoàn thiện cơ chế quản lý theo hướng vừa tăng cường truy xuất nguồn gốc, vừa đẩy mạnh chuyển đổi số và tạo thuận lợi hơn cho hoạt động sản xuất, chế biến, xuất khẩu thủy sản. Đối với ngành tôm nước lợ, những đề xuất về hoàn thiện hồ sơ nguồn gốc nguyên liệu, nâng cao khả năng truy xuất và triển khai cấp COA điện tử được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao tính minh bạch của chuỗi sản xuất, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của các thị trường nhập khẩu theo đúng nội dung dự thảo Thông tư.

Lan Hương

Kính mới Quý độc giả xem toàn bộ dự thảo Thông tư số 33/2026/TT-BNNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định trong lĩnh vực thủy sản, trong đó có nhiều nội dung liên quan đến nuôi trồng thủy sản tại đây: số 33/2026/TT-BNNMT