Tôm hùm bông giống: Hoàn thiện quy trình ương nuôi, nâng tỷ lệ sống trên 90%

[Người Nuôi Tôm] – Nhóm nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III (nay là Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam), đã hoàn thiện quy trình công nghệ ương nuôi tôm hùm bông giống với tỷ lệ sống ổn định trên 90%, góp phần nâng cao chất lượng con giống, giảm rủi ro dịch bệnh và cải thiện hiệu quả kinh tế cho người nuôi tôm hùm tại các tỉnh ven biển miền Trung.

Việc hoàn thiện quy trình ương nuôi không chỉ giúp nâng cao tỷ lệ sống và chất lượng tôm giống mà còn góp phần giảm rủi ro dịch bệnh, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người nuôi (Ảnh: St)

 

Nghề nuôi tôm hùm bông (Panulirus ornatus) đang đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt ở khâu con giống và kỹ thuật ương nuôi. Xuất phát từ thực tiễn đó, nhóm nghiên cứu do ThS. Đinh Tấn Thiện, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III (nay là Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam) chủ trì, đã triển khai đề tài “Hoàn thiện quy trình công nghệ ương nuôi tôm hùm (Panulirus ornatus) giống”, nhằm nâng cao tỷ lệ sống, chất lượng con giống và hiệu quả sản xuất cho người nuôi.

Sau thời gian nghiên cứu, nhóm thực hiện đã hoàn thiện nhiều thông số kỹ thuật quan trọng trong quy trình ương nuôi tôm hùm giống. Tôm giống đưa vào ương phải đảm bảo khỏe mạnh, không dị hình, đầy đủ râu và chân. Với tôm hùm trắng, cỡ giống phù hợp có chiều dài thân từ 12 – 15 mm, khối lượng khoảng 0,25 – 0,3 g/con; còn tôm hùm bò cạp (là giai đoạn tôm hùm con vừa trải qua giai đoạn “tôm trắng” (hay tôm ma) đạt chiều dài 20 – 30 mm và khối lượng 0,5 – 1 g/con.

Việc bổ sung chế phẩm Bio-Mos vào thức ăn tươi với hàm lượng 0,4%, kết hợp dầu mực trước khi cho ăn đã giúp tôm tăng trưởng nhanh, ổn định tỷ lệ sống trên 90% và hỗ trợ phòng ngừa dịch bệnh trong quá trình ương nuôi.

Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu cũng xác định mật độ và thời điểm thay lồng phù hợp theo từng giai đoạn phát triển của tôm. Với tôm trắng, mật độ ương thích hợp là 140 – 160 con/m³ và nên thay lồng sau khoảng 20 ngày nuôi. Khi tôm đạt kích cỡ lớn hơn, mật độ tiếp tục được điều chỉnh giảm nhằm hạn chế cạnh tranh và giảm stress cho vật nuôi.

Mô hình thử nghiệm được triển khai với quy mô 5 lồng nuôi, mật độ 144 con/lồng cho thấy tỷ lệ sống duy trì trên 90%, tôm đạt kích cỡ 15 – 20 g/con sau giai đoạn ương. Sau 360 ngày nuôi thương phẩm, tôm đạt tỷ lệ sống gần 85%, khối lượng trung bình gần 700 g/con. Hiệu quả kinh tế của mô hình đạt mức làm lợi khoảng 27,75%, cao hơn đáng kể so với phương thức nuôi thông thường của nhiều hộ dân.

Ngoài ra, quy trình công nghệ này đã được chuyển giao và tập huấn cho 60 học viên thuộc nhiều cơ sở ương nuôi tại Phú Yên, góp phần từng bước chuẩn hóa kỹ thuật sản xuất giống tại địa phương.

Theo nhóm nghiên cứu, việc hoàn thiện quy trình ương nuôi không chỉ giúp nâng cao tỷ lệ sống và chất lượng tôm giống mà còn góp phần giảm rủi ro dịch bệnh, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người nuôi.

Trong bối cảnh nghề nuôi tôm hùm đang chịu áp lực lớn từ môi trường, dịch bệnh và nguồn giống tự nhiên ngày càng hạn chế, việc chuẩn hóa kỹ thuật ươngnuôi được xem là một trong những giải pháp quan trọng hướng tới phát triển bền vững ngành tôm hùm Việt Nam trong thời gian tới.

Vũ An