Nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh, siêu thâm canh công nghệ cao, thức ăn chiếm từ 50 – 60 % tổng chi phí giá thành, do đó cần quản lý lượng thức ăn phù hợp cho tôm nuôi.
Tại sao cần quản lý tốt lượng thức ăn cho tôm thẻ chân trắng?
Cung cấp thức ăn hàng ngày đủ lượng, phù hợp từng giai đoạn ương, nuôi, đảm bảo tôm phát triển đồng đều, tăng trưởng tốt, môi trường không ô nhiễm.
Tương ứng từng giai đoạn ương, nuôi cần chú ý: Điều chỉnh cữ ăn, lần ăn trong ngày, điều chỉnh lượng ăn, hàm lượng đạm tạo điều kiện tốt nhất để tôm phát triển.
Trong quá trình ương nuôi, định lượng chính xác thức ăn cho tôm, theo dõi sát nhu cầu thực tế hàng ngày giúp tiết kiệm chi phí, giảm giá thành sản xuất, hạn chế ô nhiễm môi trường, giảm thiểu rủi ro dịch bệnh.

Cho tôm ăn hiệu quả giúp tôm tăng trưởng tốt. Ảnh: photo-cms-baonghean.zadn.vn
Định lượng thức ăn giúp người nuôi biết sản lượng tôm thực tế trong ao, cỡ tôm hiện tại, mức độ tăng trưởng, tỷ lệ sống, mật độ nuôi có phù hợp sinh khối hiện tại hay không.
Chủ động điều chỉnh thức ăn tăng, giảm, cho phù hợp, chủ động kế hoạch san, chuyển, tỉa thưa, thu hoạch.
Quản lý lượng thức ăn cho tôm theo từng giai đoạn
Với kỹ thuật nuôi tôm nhiều giai đoạn như hiện nay (2 – 4 giai đoạn), từng giai đoạn nuôi, điều chỉnh lần ăn, lượng ăn, hàm lượng đạm, theo phát triển của tôm.
Giai đoạn ương tôm
Giai đoạn ương tôm trong trại vèo, bể ương trong nhà kính, hồ ương hình tròn nổi, có mái che, diện tích 300 – 500m3, mức nước sâu 0.8 – 1.0 m.
Thời gian ương kéo dài trung bình từ 18 – 20 ngày với mật độ ương: 2.000 – 4.000 con giống/m3 hoặc 6.000 – 12.000 con/m3 (2 – 4 PL/lít nước hoặc 6 – 12 PL/lít).
Khi mới thả tôm ra hồ ương, thức ăn cho tôm giống sử dụng gồm thức dạng bột, dạng mảnh, 1 mm. Hàm lượng đạm trong thức ăn từ 40 – 41%, định lần ăn trong giai đoạn này, cho tôm giống ăn 7 – 9 lần/ngày.
– Ngày thứ 2: Sau khi về hồ ương, định lượng thức ăn cho tôm giống ăn 50 – 60g/100.000 giống/lần.
– 5 ngày sau: Cho tôm giống ăn 300 – 400g/100.000 con/lần.
– Ngày thứ 10, cho ăn 500 – 600 g/100.000 giống/lần.
– Ngày thứ 15, cho ăn 750 – 800g/100.000 giống/lần.
– Ngày thứ 20, cho ăn 1-1,5 kg/100.000 giống/lần. Trong giai đoạn này, dùng tay cho tôm ăn.
– Khi ương tôm được 18 – 20 ngày, chọn ngày trời nắng, tôm khoẻ không lột, môi trường ổn định, tiến hành san, chuyển tôm sang giai đoạn 2, giai đoạn nuôi tôm lứa.
Khi thu tôm, trước khi san, chuyển, cần cân chính xác khối lượng tôm sau khi ương, trọng lượng thân tôm, xác định chính xác tỷ lệ sống, cỡ tôm. Thông thường, tôm ương sau 20 ngày, đạt size trung bình 1.500 – ≤ 1.300 con/kg.
Giai đoạn nuôi tôm lứa
Giai đoạn này, tôm nuôi trong hồ vuông lót bạt, ao tròn nổi, diện tích hồ nuôi 1.200 – 1.500 m2, mức nước sâu 1.5 – 1.8m, thời gian nuôi kéo dài 30 ngày. Mật độ thả nuôi: 500 – 700 con/m2.
Thức ăn cho tôm lứa có các kích thước: 1.2 mm; 1.4 mm; 1.7 mm. Hàm lượng đạm trong thức ăn từ 42 – 43%, trong giai đoạn này, định lượng thức ăn cho tôm lứa ăn 5 – 6 lần/ngày.
– Ngày thứ 25, cho ăn 2 – 2,5 kg/100.000 giống/lần.
– Ngày thứ 30 cho ăn 4 – 6 kg/100.000 giống/lần, lượng ăn trên cần căn cứ thêm sức khoẻ tôm, thời điểm tôm lột xác, chất lượng môi trường, diễn biến thời tiết, khí hậu, điều chỉnh theo thực tế, tăng, giảm lần ăn cho phù hợp, không cần giảm lượng ăn/lần, nếu tăng, mỗi lần tăng 300 – 500 g/ngày.
Giai đoạn nuôi tôm thương phẩm
Nuôi trong hồ vuông lót bạt, ao tròn nổi, diện tích hồ nuôi 1.200 – 1.500 m2, mức nước sâu 1.5 – 1.8m, thời gian nuôi kéo dài 30 ngày. Mật độ thả nuôi: 200 – 300 con/m2, thức ăn cho tôm lứa sử dụng gồm các size dạng 1.7 mm; 2.0 mm.

Lưu ý kiểm soát hàm lượng thức ăn cho tôm. Ảnh: danviet.mediacdn.vn
Hàm lượng đạm trong thức ăn từ 43 – 45%, trong giai đoạn này, cho tôm lứa ăn 5 – 6 lần/ngày.
Canh nhá, sàng ăn, siphon đáy, hố ga, cân trọng lượng thân tôm, điều chỉnh hợp lý lượng thức ăn cho tôm. Trung bình, cứ 1 tấn tôm ăn 40 kg thức ăn/ngày.
Từ giai đoạn 2, 3, tôm khoẻ, trung bình cứ 1 tấn tôm, cỡ tôm ≥ 100 – ≤ 150 con/kg, ăn 13 -14 kg/lần (ăn 6 lần/ngày). Tôm cỡ ≤ 100 – ≤ 80 con/kg, ăn trung bình 8-10 kg/lần (ăn 5 lần/ngày). Tôm cỡ ≤ 80 – ≤ 70 con/kg, ăn trung bình 7- 8 kg/lần (ăn 5 lần/ngày).
Nên cho tôm ăn đủ, tốt nhất là cho ăn hơi thiếu, không cho tôm ăn dư, tôm dễ bị bị đường ruột, gan tuỵ, ốp thân, ngơi tôm.
Khi thấy tôm ăn mạnh hơn bình thường, ăn nhiều, ăn nhanh hơn bình thường cần giảm ngay lượng ăn, theo dõi sát bầy tôm. Đây là dấu hiệu cho thấy tôm chuẩn bị có vấn đề về sức khoẻ, bệnh tật, thường là bệnh đường ruột, gan tuỵ.
Sau 30 ngày nuôi, có thể tỉa bớt hoặc san, giản thưa mật độ nuôi xuống 100 – 150 con/m2, để nuôi tôm về size lớn, tăng giá trị hàng hoá khi xuất bán (giai đoạn 4).
Lưu ý khi cho tôm ăn
Giai đoạn ương tôm từ 18 – 20 ngày, tối đa ương không quá 25 ngày, cần chuyển tôm sang giai đoạn 2.
Khi san, chuyển, cần nắm rõ khối lượng tôm, tỷ lệ sống, độ đồng đều để điều chỉnh lần ăn, định lượng thức ăn phù hợp.
Khi tôm phân đàn, cần chia nhỏ nhiều cử ăn trong ngày, để tôm nhỏ ăn được thức ăn, giảm phân đàn, giúp tôm lớn đều, mau lớn.
Thường bầy tôm khoẻ, từ giai đoạn 2 cho ăn 5 – 6 lần/ngày, nếu tôm so le, tôm phân đàn, tôm ke, tôm sồi nhiều, cho ăn 8 – 9 lần/ngày (45 – 50 phút/lần), đảm bảo tối đa giờ tôm ăn cuối cùng trong ngày là 21g.
Khi cho tôm ăn quá khuya, khả năng tiêu hoá kém, gan tôm không có thời gian phục hồi, dễ hư gan, hư đường ruột, tôm dễ bị ngơi, lơ mồi, thiếu oxy. Cần dựa theo thực tế để điều chỉnh linh hoạt phù hợp sức khỏe tôm.
Khi bà con cho tôm ăn thiếu, tôm lột hao xác nhiều, do tôm ăn thịt lẫn nhau. Cho ăn dư, nước lềnh, keo sệt hơn, ít bọt trên mặt nước, có váng dầu trên mặt nước, NH3, NO2 cao, tôm rớt cục thịt trong nhá, sàng ăn.
Cho tôm ăn thiếu, ao nhiều bọt, nước không lềnh, không có váng dầu. Thường xuyên kiểm tra hố siphon, xem phân tôm, thức ăn dư nếu có.
Định lượng thức ăn cần căn cứ vào sức khoẻ tôm, ngày tôm lột, thông số môi trường, diễn biến thời tiết, khí hậu.
Chất lượng môi trường liên quan việc cho tôm ăn, lượng thức ăn cho tôm ăn trong ngày. Đáy bạt dơ do cho tôm ăn dư, tôm dễ bị đường ruột, phân trắng, cần chỉnh lại thức ăn với 80% so nhu cầu thực tế của tôm trong ao
Khi cho tôm ăn 100%, tôm ít vận động, tôm khó tiêu hoá thức ăn, dễ dư thức ăn, mau dơ môi trường, tôm dễ hư gan, hư đường ruột, dịch bệnh dễ tấn công, gây thiệt hại.
Định lượng thức ăn cho tôm thẻ chân trắng phù hợp từng giai đoạn ương, nuôi, kích cỡ tôm, tình trạng môi trường, diễn biến thời tiết, khí hậu. Nếu bà con trú trọng khâu cho ăn và quản lý thức ăn, tôm phát triển tốt, tăng trưởng nhanh, tỷ lệ sống cao, mau về size lớn, môi trường ổn định, tiết kiệm chi phí sản xuất và tăng lợi nhuận.
Lý Vĩnh Phước
Tép Bạc
- cho tôm ăn li>
- tôm 3 giai đoạn li> ul>
- Giữ giá giữa tâm bão thị trường: GrowMax chấp nhận không lợi nhuận, thậm chí bù lỗ để đồng hành cùng người nuôi tôm
- Giá tôm giảm sâu, “vua tôm’’ Minh Phú vẫn đặt mục tiêu tăng trưởng đột phá
- Ghi nhận phản ánh về ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới hiệu quả các vùng nuôi tôm
- Anh Phạm Đức Ngà (Cà Mau): Thành công nhờ mô hình nuôi tôm chuẩn an toàn sinh học
- Nâng tầm giá trị con tôm Quảng Ninh – Hướng tới phát triển bền vững ngành thủy sản
- Cơ hội mới với mô hình nuôi tôm sú gia hóa
- Xuất khẩu tôm đối mặt nhiều rào cản trong cuộc đua giữ thị phần
- Văn bản hợp nhất 114/VBHN-VPQH hợp nhất Luật Thuế Giá trị gia tăng
- Khánh Hòa: Hướng tới phát triển bền vững để nâng tầm giá trị ngành tôm
- Tôm sú gia hóa Moana: Ngừng cung cấp tôm bố mẹ, chuyển sang phân phối ấu trùng
Tin mới nhất
T3,23/06/2026
- Giữ giá giữa tâm bão thị trường: GrowMax chấp nhận không lợi nhuận, thậm chí bù lỗ để đồng hành cùng người nuôi tôm
- Giá tôm giảm sâu, “vua tôm’’ Minh Phú vẫn đặt mục tiêu tăng trưởng đột phá
- Ghi nhận phản ánh về ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới hiệu quả các vùng nuôi tôm
- Bội thu nhờ đầu tư đúng vào con giống an toàn và phù hợp phát triển tại Việt Nam
- Giá tôm nguyên liệu ngày 22/6: Tôm cỡ lớn tăng giá 7.000 đồng/kg so với cuối tuần trước
- Anh Phạm Đức Ngà (Cà Mau): Thành công nhờ mô hình nuôi tôm chuẩn an toàn sinh học
- Khuyến cáo phòng bệnh cho tôm trong mùa mưa
- Chủ động bảo vệ ao nuôi trong mùa mưa: Giải pháp toàn diện giúp giảm thiểu rủi ro cho tôm
- Nâng tầm giá trị con tôm Quảng Ninh – Hướng tới phát triển bền vững ngành thủy sản
- Cơ hội mới với mô hình nuôi tôm sú gia hóa
- Ghi nhận phản ánh về ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới hiệu quả các vùng nuôi tôm
- An Giang tập huấn phòng bệnh chủ động cho người nuôi tôm nước lợ tại xã An Minh
- Vĩnh Long: Giá tôm thẻ chân trắng giảm sâu trong 3 tháng liên tiếp
- Âm thanh dưới đáy ao: Dữ liệu mới trong nuôi tôm hiện đại
- Trường Đại học Nha Trang đăng cai Hội nghị Nuôi trồng Thủy sản châu Á – Thái Bình Dương 2027
- Giá bao bì nhựa gia tăng, tạo “gánh nặng kép” cho doanh nghiệp thủy sản
- Giá tôm thẻ nguyên liệu ngày 9/6: Tăng nhẹ tại nhiều địa phương, dao động trong khoảng từ 96.000 – 157.000 đồng/kg
- Doanh nghiệp nuôi tôm vỡ nợ hơn 91 tỷ đồng, hàng loạt sổ đỏ đứng trước nguy cơ bị thu hồi
- Giải pháp toàn diện kiểm soát mầm bệnh, phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững
- Trường Đại học Nha Trang đăng cai Hội nghị Nuôi trồng Thủy sản châu Á – Thái Bình Dương 2027
- Giá bao bì nhựa gia tăng, tạo “gánh nặng kép” cho doanh nghiệp thủy sản
- Vi tảo: Nguyên liệu giàu protein và hợp chất hoạt tính sinh học
- Học viện Nông nghiệp Việt Nam: Giải mã nguyên nhân gây chết hàng loạt cá Nâu nuôi tại Huế
- Bình Định tăng cường quản lý hoạt động khai thác, bảo vệ nguồn lợi thủy sản
- Thủy sản Việt Nam tìm cách thoát ‘bẫy phụ thuộc’
- Xuất khẩu tôm: Cần xây dựng thương hiệu gắn với chất lượng
Các ấn phẩm đã xuất bản
- Giữ giá giữa tâm bão thị trường: GrowMax chấp nhận không lợi nhuận, thậm chí bù lỗ để đồng hành cùng người nuôi tôm
- Giá tôm giảm sâu, “vua tôm’’ Minh Phú vẫn đặt mục tiêu tăng trưởng đột phá
- Bội thu nhờ đầu tư đúng vào con giống an toàn và phù hợp phát triển tại Việt Nam
- Giá tôm nguyên liệu ngày 22/6: Tôm cỡ lớn tăng giá 7.000 đồng/kg so với cuối tuần trước
- Nâng tầm giá trị con tôm Quảng Ninh – Hướng tới phát triển bền vững ngành thủy sản
- Chủ động bảo vệ ao nuôi trong mùa mưa: Giải pháp toàn diện giúp giảm thiểu rủi ro cho tôm
- Văn bản hợp nhất 114/VBHN-VPQH hợp nhất Luật Thuế Giá trị gia tăng
- Giá tôm nguyên liệu ngày 18/6 dao động từ 85.000 – 106.000 đồng/kg
- Xuất khẩu tôm đối mặt nhiều rào cản trong cuộc đua giữ thị phần
- Anh Phạm Đức Ngà (Cà Mau): Thành công nhờ mô hình nuôi tôm chuẩn an toàn sinh học
- An toàn sinh học: Giải pháp then chốt cho bài toán dịch bệnh thủy sản
- Sử dụng sóng siêu âm để tính sinh khối ao nuôi tôm
- Máy sưởi ngâm: Cách mạng hóa nghề nuôi tôm ở Việt Nam
- Waterco: Giải pháp thiết bị hàng đầu trong nuôi trồng thủy sản
- GROSHIELD: “Trợ thủ đắc lực” giúp tôm đề kháng vững vàng hàng ngày, sẵn sàng về đích
- Năm mới, nỗi lo cũ: “Làm sao để tăng cường đề kháng cho tôm?”
- Vi sinh: Giải pháp mục tiêu toàn diện
- Grobest Việt Nam: Tiên phong ra mắt sản phẩm thức ăn chức năng hàng ngày Groshield, nâng cao tối đa sức đề kháng, hướng đến những vụ tôm về đích thành công trong năm tới
- Solagron Vietnam: Nhà sản xuất vi tảo công nghiệp đầu tiên mang dấu ấn Việt Nam
- Giải pháp giảm phát thải trong nuôi trồng thủy sản từ bột cá thủy phân





















