Nuôi tôm công nghệ cao: Động lực tăng trưởng mới cho Vĩnh Long

[Người Nuôi Tôm] – Tại nhiều vùng ven biển, nuôi tôm công nghệ cao đang dần trở thành động lực phát triển kinh tế mới. Thực tiễn ở Vĩnh Long cho thấy, khi hạ tầng, kỹ thuật và thông tin được đầu tư đồng bộ, nuôi tôm không chỉ nâng cao thu nhập mà còn góp phần thúc đẩy giảm nghèo bền vững.

Khi hạ tầng nuôi tôm được đầu tư đồng bộ sẽ mang lại hiệu quả rõ rệt

 

Hạ tầng đi trước, công nghệ theo sau

Ở nhiều vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long, nuôi tôm từng phụ thuộc lớn vào thời tiết, dịch bệnh và kinh nghiệm truyền miệng, khiến hiệu quả bấp bênh. Tuy nhiên, tại một số địa phương của tỉnh Vĩnh Long, nuôi tôm công nghệ cao đang dần thay đổi cách làm cũ, mang lại hiệu quả kinh tế ổn định và mở ra hướng giảm nghèo bền vững.

Xã Thạnh Phong là một ví dụ tiêu biểu. Từ sản xuất manh mún, hạ tầng hạn chế, địa phương mạnh dạn chuyển sang nuôi tôm công nghệ cao với quy mô tập trung và định hướng rõ ràng. Theo Chủ tịch UBND xã Phạm Văn Hùng, nhiều hộ dân đã chuyển từ ao đất truyền thống sang ao lót bạt, áp dụng quy trình kỹ thuật mới, giúp nâng cao năng suất và kiểm soát dịch bệnh tốt hơn. Dự kiến đến cuối năm nay, diện tích nuôi tôm công nghệ cao của xã đạt khoảng 4.000 ha, sản lượng gần 6.500 tấn; giai đoạn 2025 – 2030 tiếp tục mở rộng thêm 120 ha.

Sự chuyển mình của Thạnh Phong gắn liền với đầu tư hạ tầng đồng bộ và chuyển giao kỹ thuật. Địa phương đã xây dựng 12 cụm điện 3 pha, nâng cấp 11 tuyến đường và nạo vét 10 tuyến kênh, phục vụ trực tiếp cho vùng nuôi tập trung. Cùng với đó là các chương trình tập huấn, hội thảo kỹ thuật, hướng dẫn quản lý ao nuôi, kiểm soát môi trường và phòng chống dịch bệnh. Nhờ tiếp cận an toàn sinh học, quản lý mật độ và theo dõi môi trường bằng thiết bị đo, người nuôi từng bước chuyển từ làm theo kinh nghiệm sang sản xuất dựa trên thông tin và dữ liệu, giúp mô hình nuôi tôm công nghệ cao lan tỏa nhanh và bền vững hơn.

 

Giá trị tiên phong và sức lan tỏa từ thực tiễn

Sự chuyển mình của vùng nuôi không thể thiếu vai trò của những người tiên phong. Ông Đặng Văn Bảy, ngụ ấp Đại Thôn, được xem là một trong những nông dân đi đầu trong áp dụng mô hình nuôi tôm công nghệ cao tại địa phương. Hơn 20 năm trước, ông chỉ sở hữu vài ao đất nhỏ lẻ, sản xuất thiếu ổn định. Bước ngoặt đến khi ông tiếp cận các lớp tập huấn kỹ thuật và tư vấn từ chuyên gia, từ đó quyết định chuyển đổi toàn bộ hệ thống ao nuôi.

Trên mỗi hecta trang trại, ông Bảy chỉ dành khoảng 1.500 m² cho ao nuôi thương phẩm, phần diện tích còn lại bố trí ao lắng, ao xử lý, ao ương và ao chứa nước. Nước trước khi vào ao nuôi phải trải qua quy trình lắng lọc, xử lý và kiểm soát chặt các chỉ tiêu môi trường. Hệ thống tạo oxy được vận hành liên tục, các thông số như pH, độ mặn, mật độ tảo được theo dõi hằng ngày thông qua dữ liệu từ cảm biến. Nhờ kiểm soát tốt môi trường, tôm sinh trưởng nhanh, ít bệnh, năng suất cao gấp ba lần so với cách nuôi cũ. Sau hơn hai tháng, tôm đạt cỡ 30 – 40 con/kg. Hiệu quả kinh tế tăng mạnh: năm 2019 lãi gần 20 tỷ đồng, năm 2020 khoảng 25 tỷ đồng, năm 2021 đạt 30 – 35 tỷ đồng với sản lượng trên 400 tấn.

Không chỉ làm giàu cho gia đình, trang trại của ông Bảy còn tạo việc làm ổn định cho 50 – 60 lao động địa phương, thu nhập trên 10 triệu đồng/người/tháng. Ngoài ra, ông còn tham gia vai trò cố vấn kỹ thuật cho Câu lạc bộ Nông dân tỷ phú, trực tiếp chia sẻ kinh nghiệm vận hành mô hình, góp phần nâng cao năng lực tiếp cận thông tin và kỹ năng nghề cho cộng đồng.

Không chỉ nông dân lâu năm, nuôi tôm công nghệ cao còn thu hút nhiều người trẻ trở về quê lập nghiệp. Anh Trương Thái Trọng (xã Đông Hải) là một trường hợp tiêu biểu. Từ 11,5 ha đất ven rừng của gia đình, anh từng đối mặt với nhiều thất bại, thua lỗ hàng trăm triệu đồng mỗi vụ do dịch bệnh và nguồn nước. Thay vì bỏ cuộc, anh kiên trì học lại kỹ thuật, đầu tư ao lắng, xử lý nước và áp dụng hệ thống cho ăn tự động. Sau vài năm, mô hình nuôi của anh dần ổn định và cho hiệu quả rõ rệt. Hiện anh quản lý khoảng 10 ao nuôi, mật độ thả 200 – 400 con/m². Mỗi vụ kéo dài 3 – 3,5 tháng, nếu giá thuận lợi, một ao có thể lãi 500 – 800 triệu đồng, thậm chí cao hơn. Tổng thu nhập mỗi năm đạt vài tỷ đồng, đồng thời tạo việc làm cho 4 – 5 lao động địa phương với mức công 400.000 đồng/người/ngày.

Theo Phó Chủ tịch UBND xã Đông Hải Lữ Minh Tâm, những mô hình như của anh Trọng cho thấy người trẻ hoàn toàn có thể làm chủ công nghệ nếu được tiếp cận thông tin và kiến thức phù hợp. Nhờ đó, tỷ lệ hộ nghèo tại xã giảm mạnh, đến cuối tháng 10 chỉ còn 25 hộ nghèo (0,85%) và 69 hộ cận nghèo (2,35%).

 

Trở thành động lực phát triển của tỉnh

Ở quy mô lớn hơn, tỉnh Vĩnh Long đang từng bước tái cơ cấu ngành tôm theo hướng bền vững, lấy công nghệ, liên kết chuỗi và kiểm soát chất lượng làm trọng tâm. Sở NN&MT tỉnh cho biết, địa phương đã đề xuất Trung ương đưa 14 công trình hạ tầng vùng nuôi trọng điểm vào kế hoạch đầu tư công trung hạn 2026 – 2030, tổng vốn khoảng 1.900 tỷ đồng. Trước đó, 11 công trình đã được triển khai trên diện tích gần 13.900 ha, bao gồm đường giao thông, cầu cống, nạo vét kênh mương và hệ thống điện. Các dự án hạ tầng này đều đi kèm chương trình tập huấn, chuyển giao kỹ thuật và hướng dẫn quản lý môi trường. Mục tiêu không chỉ xây dựng cơ sở vật chất mà còn nâng cao năng lực sử dụng hạ tầng của người nuôi, giúp họ tiếp cận và khai thác hiệu quả các nguồn thông tin kỹ thuật.

Song song với đầu tư hạ tầng, Vĩnh Long đang đẩy mạnh nuôi tôm thẻ chân trắng theo chuỗi liên kết nhằm nâng cao chất lượng và giá trị xuất khẩu. Trung tâm Khuyến nông tỉnh triển khai dự án xây dựng chuỗi liên kết sản xuất tôm thẻ chân trắng, tập trung tổ chức lại các khâu từ con giống, thức ăn, quy trình nuôi đến tiêu thụ sản phẩm, hướng tới hình thành vùng nguyên liệu ổn định.

Dự án tổ chức tập huấn cho 40 hộ dân, tập trung vào an toàn sinh học, quản lý môi trường ao nuôi, sử dụng thức ăn hợp lý và phòng chống dịch bệnh. Mô hình đặt mục tiêu năng suất từ 20 tấn/ha, tỷ lệ sống khoảng 80%, cỡ tôm thu hoạch không quá 40 con/kg và hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) đạt 1,25 sau khoảng 4 tháng nuôi. Kết quả bước đầu cho thấy, các hộ tham gia giảm rủi ro, tiết kiệm chi phí và giá bán cao hơn 8 – 10% so với nuôi truyền thống. Nuôi tôm công nghệ cao gắn với liên kết chuỗi không chỉ nâng cao hiệu quả kinh tế mà còn thúc đẩy tư duy sản xuất bền vững, giúp người nuôi chủ động hơn trước rủi ro và cải thiện sinh kế lâu dài.

Từ Thạnh Phong, Đông Hải đến các vùng nuôi trọng điểm khác, câu chuyện nuôi tôm công nghệ cao ở Vĩnh Long đang cho thấy một hướng đi rõ ràng: phát triển không chỉ bằng diện tích, mà bằng tri thức, công nghệ và sự gắn kết cộng đồng. Đây chính là nền tảng để ngành tôm địa phương bứt phá, đóng góp vào mục tiêu giảm nghèo bền vững và nâng tầm giá trị tôm Việt trên thị trường quốc tế.

Lê Vy (tổng hợp)

Tin mới nhất

T4,04/02/2026