Ngành tôm 2024: Bắt nhịp xu thế phát triển xanh

[Tạp chí Người Nuôi Tôm] – Khi nói về xu thế phát triển xanh trong ngành tôm để đáp ứng yêu cầu thị trường cũng như đón đầu xu hướng tiêu dùng mới, ông Hồ Quốc Lực – Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Thực phẩm Sao Ta cho rằng, đây không chỉ là xu thế tất yếu không thể đảo ngược, mà còn là lựa chọn tốt nhất cho ngành tôm trong thời gian tới. Do đó, các doanh nghiệp nên có sự quan tâm đến vấn đề này ngay từ bây giờ, bởi mọi sự chuẩn bị cho lâu bền để hòa nhập xu thế chung nhằm xác lập lợi thế cạnh tranh là không bao giờ thừa.

Xây dựng hầm ủ biogas, áp dụng máy ép phân, hệ thống xi phông tự động đã góp phần chủ động giảm đáng kể phát thải khí nhà kính trong quá trình nuôi tôm

Những động thái tích cực

Việc nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng đã được các doanh nghiệp thủy sản chú trọng trong gần 20 năm qua thông qua các “Chương trình sản xuất sạch hơn”, mà trọng tâm là sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả. Việc tiết kiệm nước cũng nằm trong tiêu chí sử dụng hiệu quả, tiết kiệm các nguồn tài nguyên. Ở tiêu chí tái chế và tuần hoàn, các doanh nghiệp thủy sản đang thực hiện khá tốt. Phụ phẩm cá tôm trở thành nguyên liệu để tiếp tục sản xuất ra các sản phẩm hữu ích, không để phụ phẩm gây tác hại môi trường mà còn tạo ra giá trị nâng cao hiệu quả hoạt động. Bao bì thủy sản cũng dễ tái chế vì chỉ là giấy và nhựa, góp phần giảm rác thải ra môi trường.

Nhắc tới tiêu chí tái chế, ông Lực kể vui: “Trước đây, có một doanh nghiệp chuyên sản xuất bao bì tái chế bị các doanh nghiệp chế biến thủy sản chê lên chê xuống vì lo ngại không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, nhưng từ khi có thông tin phía EU sẽ áp dụng CBAM, sản phẩm bao bì tái chế của doanh nghiệp này đắt như tôm tươi, muốn mua phải đặt hàng trước dài hạn mới có”. Liên quan đến CBAM, theo ông Lực, xu thế này không thể đi ngược, nên các doanh nghiệp ngành tôm phải bắt tay ngay từ bây giờ, nếu muốn tồn tại và vươn lên tại thị trường này. Tuy nhiên, cái khó của doanh nghiệp hiện nay là chúng ta thiếu dữ liệu phát thải cấp doanh nghiệp, chưa biết cách tính toán, dẫn đến thiếu nhân sự có năng lực giám sát, lập báo cáo…

Tuy nhiên, nếu chỉ một mình doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu đeo đuổi phát triển xanh thôi là chưa đủ, mà cần cả chuỗi giá trị xanh đồng bộ, bởi các mắt xích trong chuỗi giá trị có liên quan mật thiết nhau và ảnh hưởng không nhỏ. Theo đó, từ các doanh nghiệp cung ứng con giống, thức ăn, chế phẩm nuôi, các cơ sở nuôi phải đều có tiêu chí cụ thể để thực hiện và thống nhất trong cả chuỗi. Nếu đáp ứng được đòi hỏi này chắc chắn sẽ tăng sức cạnh tranh mạnh mẽ cho ngành thủy sản. Cũng nói thêm, VCCI đã có bộ tiêu chí doanh nghiệp bền vững (CSI) từ khá lâu và ngay từ phiên bản đầu tiên được ban hành vào năm 2016, Bộ chỉ số CSI đã được Chính phủ, các tổ chức trong và ngoài nước ghi nhận và đánh giá cao. Đây được xem là nền tảng để các doanh nghiệp thủy sản nói chung và ngành tôm nói riêng có thể thực hiện trong chiến lược phát triển xanh trong khi chờ đợi bộ tiêu chí riêng của ngành.

Xu thế tất yếu

Sản xuất xanh, tiêu dùng xanh, sống xanh… được dự báo sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. Do đó, các doanh nghiệp ngành tôm nên xem việc chủ động sớm bắt nhịp theo xu hướng phát triển xanh là một trong những chiến lược sản xuất kinh doanh, nhằm tạo nền tảng cho việc đạt các chứng chỉ xanh, hay các tiêu chuẩn quốc tế, để từ đó thâm nhập sâu hơn vào các thị trường xuất khẩu khó tính, như: Hoa Kỳ, châu Âu, Nhật Bản… có giá bán cao và thuế suất ưu đãi. Việc áp dụng mô hình sản xuất xanh sẽ giúp ngành tôm đáp ứng được các cam kết liên quan tới chính sách pháp luật về môi trường, cân bằng phát thải, năng lượng tái, tạo, phúc lợi động vật… từ các Hiệp định thương mại tự do mà Chính phủ Việt Nam đã ký kết. Không những vậy, sản xuất xanh còn tạo thuận lợi cho việc mở rộng thị phần tại các thị trường xuất khẩu và tham gia vào chuỗi giá trị của các doanh nghiệp, tập đoàn quốc tế, bởi sản xuất bền vững là một trong những tiêu chí quan trọng để họ lựa chọn đối tác.

Không nói đâu xa, ngay trong năm 2023, khi các doanh nghiệp may mặc Việt Nam hầu hết đều “đói” đơn hàng thì các doanh nghiệp của Banglades liên tục nhận được những đơn hàng lớn nhờ sớm có được chứng chỉ sản xuất xanh. Đối với ngành hàng tôm, theo ông Lực, các doanh nghiệp tôm có mua bán với khách hàng từ EU cũng đã được phía đối tác đưa ra nhiều nội dung phải quan tâm, lưu ý và thực thi, xoay quanh vấn đề kiểm soát, giảm thiểu phát thải; giải pháp trung hòa carbon… “Đây không phải là chuyện cá nhân riêng lẻ, mà là vấn đề lớn, chung nhất được thống nhất và quyết định từ các nhà mua hàng từ EU, đặc biệt là các nhãn hàng lớn và chuỗi kinh doanh quốc tế, khi họ đang tái cấu trúc lại chuỗi cung ứng toàn cầu để bảo đảm các mục tiêu bền vững nghiêm ngặt”, ông Lực chia sẻ thêm.

Cũng tại thị trường châu Âu, theo thỏa thuận xanh của EU về giảm khí thải, chống biến đổi khí hậu và phát triển bền vững, đòi hỏi sự tuần hoàn của sản phẩm; cấm đưa vào lưu thông và xuất khẩu các sản phẩm liên quan đến phá rừng và suy thoái rừng; là vấn đề giảm phát thải khí nhà kính trong quá trình nuôi trồng và chế biến, cùng với đó là các tiêu chuẩn cao về an toàn vệ sinh thực phẩm… Trong khi đó, chúng ta vẫn chưa có các hướng dẫn cần thiết và quan trọng hơn là khả năng theo đuổi doanh nghiệp xanh của các doanh nghiệp trong nước còn nhiều hạn chế, nhất là hạn hẹp tài chính vì quy mô sản xuất không lớn. Cũng theo ông Lực thời gian qua, phong trào làm điện áp mái khá phổ biến. Điều này góp phần vào tỷ lệ sử dụng điện tái tạo. Phần cần bù thêm để đạt tiêu chí phải giải quyết ở sự chuẩn bị tầm vĩ mô. Bộ Công thương rất quan tâm vấn đề này khi điện tái tạo được chú ý chỉ  tiêu tăng trưởng và đồng bộ là hệ thống kết nối.

Vẫn còn nhiều việc phải làm

Theo PGS.TS. Võ Nam Sơn, Trường Đại học Cần Thơ, ở khâu nuôi tôm, từ các dạng năng lượng, như: xăng, dầu, điện, cho đến các loại vật tư đầu vào phục vụ quá trình nuôi, như: vôi, phân bón, thức ăn, chế phẩm sinh học… đều gây ra phát thải. Theo đó, lượng phát thải khí nhà kính mà nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Cần Thơ đo được (kgCO2/kg tôm tươi) đối với mô hình nuôi thâm canh là 9,3; nuôi siêu thâm canh là 11,7; nuôi siêu thâm canh theo ASC là 12,5. Trong khi đó, như trên đã nói, để con tôm đạt tiêu chí xanh đòi hỏi phải đồng bộ cả chuỗi giá trị; trong đó, mắc xích yếu nhất hiện nay chính là ở khâu nuôi. Không nói đâu xa, ngay cả các doanh nghiệp hay trang trại nuôi tôm lớn khu vực Đồng bằng sông Cửu Long hiện cũng canh cánh nỗi lo về vấn đề này, nhất là ở tiêu chí phát thải khí nhà kính, tiêu chí về tuần hoàn, tái chế…

Thời gian qua, các doanh nghiệp, trang trại và người nuôi đã áp dụng nhiều giải pháp, tiến bộ khoa học công nghệ vào nuôi tôm góp phần giảm lượng phát thải khí nhà kính, như: nuôi tuần hoàn nước, ứng dụng công nghệ vi sinh, tiết kiệm điện thông qua việc cải tiến hệ thống quạt tạo oxy, quản lý tốt thức ăn để hạn chế tình trạng dư thừa làm phát sinh khí nhà kính, lắp đặt hầm biogas để xử lý chất thải, xử dụng máy ép phân tôm ủ làm phân bón… Tuy riêng lẻ và tự phát, nhưng các giải pháp trên đều cho thấy mức độ giảm phát thải khí nhà kính trong nuôi tôm đã giảm đáng kể. Thậm chí, có doanh nghiệp chủ động xin lãnh đạo tỉnh và ngành nông nghiệp chủ trương trồng rừng phòng hộ ven biển để bù vào lượng phát thải khí nhà kính trong quá trình nuôi tôm. Đây là cách làm rất hay, nhưng theo doanh nghiệp này cho biết, vẫn chưa thể triển khai được, do muốn trồng rừng doanh nghiệp phải có dự án, mà điều này thì nằm ngoài tầm với của doanh nghiệp chuyên về chế biến tôm, còn nếu thuê tư vấn thì chi phí lên đến 400-500 triệu đồng.

Theo đánh giá của PGS.TS. Võ Nam Sơn, việc ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào nuôi tôm để giảm phát thải khí nhà kính bước đầu cho thấy hiệu quả tích cực. Các mô hình, giải pháp thử nghiệm nuôi tôm giảm phát thải khí nhà kính do các chương trình, dự án triển khai cho kết quả khả quan nên vấn đề còn lại là việc tích hợp đồng bộ các giải pháp này vào từng mô hình cụ thể để vừa đảm bảo tính hiệu quả về mặt kinh tế, vừa đảm bảo tiêu chí bền vững. Còn theo ông Lực, trong khi chờ đợi các chuẩn mực cụ thể được ban hành, các doanh nghiệp cần sớm nhận thức và có tâm thế chuẩn bị sẽ chủ động hơn trong việc tiếp cận và đạt chuẩn doanh nghiệp xanh sau này. Mọi sự chuẩn bị cho lâu bền đều không thừa, nhất là khi bài học từ ngành may là lời nhắc nhở, cảnh báo hết sức thiết thực.

Hoàng Nhã

 

Tin mới nhất

CN,14/07/2024