Chính sách nhập khẩu thức ăn thủy sản mới: Rõ thủ tục, ngắn thời gian

[Người Nuôi Tôm] – Thông tư số 16/2026/TT-BNNMT do Bộ NN&MT ban hành mới đây, quy định về quản lý giống thủy sản, thức ăn thủy sản và sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản cho thấy một cách tiếp cận quản lý mới minh bạch hơn, gần thực tế sản xuất hơn và có xu hướng đồng hành nhiều hơn với doanh nghiệp.

Thông tư số 16/2026/TT-BNNMT không chỉ là một văn bản kỹ thuật thuần túy, mà là một sự khẳng định về tư duy quản lý mới

 

Phân cấp để thủ tục không còn “đi đường vòng”

Một trong những điểm đáng chú ý nhất của Thông tư 16 là việc xác định rõ thẩm quyền cấp và cấp lại giấy phép nhập khẩu thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản nhập khẩu theo quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật Thủy sản. Theo đó, Chủ tịch UBND cấp tỉnh nơi tổ chức, cá nhân thực hiện khảo nghiệm, nghiên cứu khoa học hoặc trưng bày tại hội chợ, triển lãm là cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định cấp phép.

Việc phân cấp cho địa phương đồng nghĩa với việc doanh nghiệp không phải “đi đường vòng” về Trung ương cho những thủ tục có tính chất kỹ thuật, phạm vi hẹp và gắn trực tiếp với một địa bàn cụ thể. Đơn vị thực hiện dự án ở đâu thì làm thủ tục ở đó. Khoảng cách được rút ngắn, thời gian đi lại giảm bớt, quy trình tiếp cận cơ quan có thẩm quyền cũng thực tế hơn. Quan trọng hơn, địa phương cũng là nơi nắm rõ nhất điều kiện thực tế của hoạt động khảo nghiệm, nghiên cứu hoặc trưng bày. Việc giao quyền cho địa phương không chỉ để giảm tải thủ tục, mà còn để việc giám sát sau cấp phép trở nên sát hơn với thực địa, tránh tình trạng cấp phép xong là buông lỏng kiểm soát.

 

Hồ sơ được gọi tên rõ ràng

Theo quy định, hồ sơ đăng ký nhập khẩu gồm đơn đăng ký nhập khẩu theo Mẫu số 05, Phụ lục VII ban hành kèm theo Thông tư. Bên cạnh đó, tùy mục đích nhập khẩu mà tổ chức, cá nhân phải bổ sung các giấy tờ phù hợp. Nếu nhập khẩu để giới thiệu tại hội chợ, triển lãm, hồ sơ phải có giấy xác nhận về việc tổ chức hoặc tham gia hội chợ, triển lãm tại Việt Nam. Đáng chú ý, giấy xác nhận này không chỉ dừng ở việc chứng minh có sự kiện, mà còn phải thể hiện đầy đủ các nội dung như thời gian, địa điểm tổ chức, thông tin sản phẩm, gồm tên sản phẩm, thành phần chính, công dụng, hướng dẫn sử dụng, hướng dẫn bảo quản, số lượng, khối lượng, phương án xử lý sản phẩm sau khi kết thúc hội chợ, triển lãm và trách nhiệm của các bên liên quan.

Quy định này có ý nghĩa rất thực tế. Nó buộc đơn vị nhập khẩu phải tính trước toàn bộ vòng đời của sản phẩm, kể cả sau khi kết thúc hoạt động trưng bày. Nếu nhập khẩu để nghiên cứu khoa học, hồ sơ phải có đề cương nghiên cứu đã được phê duyệt theo quy định của pháp luật về khoa học và công nghệ. Điều đó bảo đảm rằng mọi sản phẩm nhập khẩu theo diện nghiên cứu đều phục vụ cho một mục tiêu tiến bộ kỹ thuật rõ ràng, tránh việc mượn danh nghiên cứu để đưa sản phẩm vào lưu thông không kiểm soát.

 

Cam kết bằng thời hạn xử lý cụ thể

Trong Thông tư 16, thời gian xử lý hồ sơ được quy định ngắn và rõ. Cụ thể, trong thời hạn 4 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Sở NN&MT phải tổ chức thẩm định và trình Chủ tịch UBND cấp tỉnh xem xét, quyết định cấp giấy phép nhập khẩu cho tổ chức, cá nhân theo Mẫu số 06, Phụ lục VII. Nếu không cấp phép, cơ quan chức năng phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Tương tự, đối với trường hợp cấp lại giấy phép do bị mất, bị hỏng hoặc thay đổi địa chỉ của tổ chức, cá nhân nhập khẩu, thời gian xử lý còn được rút ngắn hơn.

Trong vòng 2 ngày làm việc kể từ khi nhận được đơn đề nghị theo Mẫu số 05, Sở NN&MT phải thẩm định và trình Chủ tịch UBND cấp tỉnh cấp lại giấy phép. Nếu không cấp lại, cơ quan chức năng cũng phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Dù tạo điều kiện thuận lợi hơn cho nhập khẩu, Thông tư 16 không đi theo hướng nới lỏng quản lý. Ngược lại, càng ở những nội dung có nguy cơ tác động lớn đến môi trường, chất lượng và an toàn sinh học, quy định càng cho thấy xu hướng siết chặt hơn ở khâu giám sát và hậu kiểm.

Theo đó, Sở NN&MT có trách nhiệm giám sát việc tham gia hội chợ, triển lãm và nghiên cứu khoa học của tổ chức, cá nhân đăng ký nhập khẩu. Đối với nhập khẩu thủy sản sống dùng làm thức ăn thủy sản, quy trình còn được kiểm soát nhiều tầng hơn. Nếu là loài thủy sản đã được phép kinh doanh tại Việt Nam, việc nhập khẩu thực hiện theo khoản 1 Điều 36 Luật Thủy sản và Điều 15 Nghị định số 41/2026/NĐ-CP ngày 25/01/2026 của Chính phủ. Nếu là loài thủy sản chưa có tên trong Danh mục loài thủy sản được phép kinh doanh tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân phải thực hiện khảo nghiệm theo Điều 12 của Nghị định này.

 

Kiểm tra tại nguồn, tư duy quản lý từ gốc

Theo quy định, khi phát hiện thức ăn thủy sản hoặc sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản nhập khẩu vào Việt Nam có nguy cơ gây tác động xấu, Chủ tịch UBND cấp tỉnh có thể xem xét, quyết định kiểm tra hệ thống quản lý sản xuất tại nước xuất khẩu. Thành phần đoàn kiểm tra gồm Sở NN&MT và các đơn vị liên quan. Nội dung kiểm tra không chỉ dừng ở bản thân sản phẩm, mà mở rộng ra toàn bộ hệ thống quản lý của nước xuất khẩu, từ văn bản pháp luật, năng lực thực thi của cơ quan quản lý đến điều kiện thực tế tại cơ sở sản xuất xuất khẩu vào Việt Nam. Đây là một thay đổi rất đáng chú ý về tư duy quản lý. Thay vì chỉ kiểm soát khi hàng đã về cảng hoặc khi rủi ro đã phát sinh trong nước, cơ quan quản lý có thể chủ động tiếp cận từ gốc của vấn đề.

Quỳnh Mai

Tin mới nhất

T4,22/04/2026