Bệnh hoại tử gan tụy cấp (AHPND), hay còn gọi là hội chứng tôm chết sớm – EMS) là một bệnh rất nguy hiểm ở tôm. Bệnh gây chết tôm hàng loạt chỉ sau một thời gian ngắn. Tôm có thể bị nhiễm bệnh hoại tử gan tụy trong suốt quá trình nuôi, tập trung nhiều ở giai đoạn tôm nhỏ đến 60 ngày tuổi.
Để kiểm soát vi khuẩn Vibrio spp. gây bệnh hoại tử gan tụy cấp (AHPND) trên tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei), người nuôi phải tuân thủ yêu cầu về chọn vị trí và chuẩn bị ao nuôi, yêu cầu về chất lượng tôm giống, thả giống. Đặc biệt, trong quá trình chăm sóc và quản lý, có thể sử dụng hai giải pháp sau:
a. Giải pháp bổ sung vào thức ăn các chất/sản phẩm chế phẩm sinh học hiệu quả nhằm ức chế vi khuẩn gây bệnh:
– Thức ăn sử dụng là thức ăn công nghiệp dạng viên có độ đạm 38 – 40%. Trong tháng thứ nhất, cho tôm ăn (bằng tay) 6 lần/ngày vào các thời điểm: 6 giờ 30 phút; 9 giờ 30 phút; 12 giờ 30 phút; 15 giờ 30 phút; 18 giờ 30 phút và 21 giờ 30 phút. Trong tháng nuôi thứ hai và thứ ba, tôm được cho ăn bằng máy cho ăn tự động, cho tôm ăn 04 lần/ngày vào các thời điểm: 06 – 07 giờ; 10 – 11 giờ; 14 – 15 giờ; 17 – 18 giờ với khối lượng thức ăn bằng 3% khối lượng tôm.
– Định kỳ trộn vào thức ăn cho tôm: chế phẩm sinh học (có thành phần chính là Bacillus spp., Lactobacillus spp.) với hàm lượng 108CFU/g, tỷ lệ 5-10g chế phẩm sinh học/01 kg thức ăn; Beta-glucan với hàm lượng 20.000mg, tỷ lệ 5-10g Beta-glucan/01 kg thức ăn.
Sử dụng cách 05 ngày/01 đợt, mỗi đợt cho ăn 03 ngày liên tiếp, mỗi ngày cho ăn hai lần (lần cho ăn đầu tiên và lần cho ăn cuối cùng trong ngày), thực hiện trong tháng thứ nhất của quá trình nuôi, cụ thể ở bảng sau.
Hướng dẫn cho tôm ăn sử dụng chế phẩm sinh học định kỳ trong tháng thứ nhất
| Ngày
nuôi thứ |
Lần 1
(6h30) |
Lần 2
(9h30) |
Lần 3
(12h30) |
Lần 4
(15h30) |
Lần 5
(18h30) |
Lần 6
(21h30) |
| 1-3 | Cho tôm ăn thức ăn bổ sung (chế phẩm sinh học và Beta-glucan) | Cho tôm ăn bình thường | Cho tôm ăn thức ăn bổ sung (chế phẩm sinh học và Beta-glucan) | |||
| 4-8 | Cho tôm ăn bình thường | |||||
| 9-11 | Cho tôm ăn thức ăn bổ sung (chế phẩm sinh học và Beta-glucan) | Cho tôm ăn bình thường
|
Cho tôm ăn thức ăn bổ sung (chế phẩm sinh học và Beta-glucan) | |||
| 12-16 | Cho tôm ăn bình thường | |||||
| 17-19 | Cho tôm ăn thức ăn bổ sung (chế phẩm sinh học và Beta-glucan) | Cho tôm ăn bình thường | Cho tôm ăn thức ăn bổ sung (chế phẩm sinh học và Beta-glucan) | |||
| 20-24 | Cho tôm ăn bình thường | |||||
| 25-27 | Cho tôm ăn thức ăn bổ sung (chế phẩm sinh học và Beta-glucan) | Cho tôm ăn bình thường | Cho tôm ăn thức ăn bổ sung (chế phẩm sinh học và Beta-glucan) | |||
Lưu ý: Bổ sung chất kết dính (Binder) nhằm làm giảm thất thoát chế phẩm bám vào thức ăn, bổ sung theo tỷ lệ 5g Binder/01 kg thức ăn. Sau khi trộn để 15 phút rồi mới cho tôm ăn.
b. Giải pháp quản lý chất lượng nước bằng việc định kỳ sử dụng các chế phẩm sinh học xử lý nước hiệu quả:
– Định kỳ xử lý nước bằng chế phẩm sinh học (có thành phần chính là Nitrosomonas spp., Nitrobacter spp.), với hàm lượng 108CFU/g, tỷ lệ 01kg chế phẩm/1.000m3 nước (hòa tan chế phẩm sinh học trực tiếp với nước ao nuôi, tạt trực tiếp xuống ao nuôi), sử dụng cách 3 ngày/đợt, mỗi đợt 1 lần, thực hiện trong suốt quá trình nuôi, cụ thể tại bảng sau:
Hướng dẫn sử dụng chế phẩm sinh học xử lý nước định kỳ
| Ngày nuôi thứ | Thời gian thực hiện (17-18 giờ) |
| 1; 5; 9; 13; 17; 21; 25; 29; 33; 37; 41; 45; 49; 53; 57; 61; 65; 69; 73; 77; 81; 85; 89 | Sử dụng chế phẩm sinh học xử lý nước (có thành phần chính là Nitrosomonas spp., Nitrobacter spp., hàm lượng 108CFU/g) |
– Kiểm soát việc bổ sung và thay nước: việc thay nước thường được tiến hành khi ao nuôi có “sự cố” hay thay nước ao nuôi khi tôm ở giai đoạn trên 2 tháng nuôi. Lượng nước thay tuỳ thuộc vào nguyên nhân gây ra “sự cố” (độ trong thấp, tảo tàn,…), lượng nước thay có thể lên đến 50%. Thay nước khi xi phông tuỳ thuộc vào mực độ cho tôm ăn nhiều hay ít, lượng nước thay có thể từ 30-50 % nước.
BBT
Nguồn: khuyennongvn.gov.vn
- bệnh hoại tử gan tụy cấp li>
- kiểm soát vi khuẩn Vibrio li>
- vi khuẩn Vibrio li> ul>
- Ấn Độ: Ngành tôm đối mặt áp lực biến đổi khí hậu
- An Giang: Vùng nuôi tôm – lúa xã Đông Hòa đạt chứng nhận quốc tế ASC
- Xuất khẩu tôm Myanmar tăng trưởng trong niên vụ 2025–2026
- Nguồn cung tôm toàn cầu: Tăng trưởng chậm, châu Á đối mặt nhiều biến động
- EHP và áp lực dịch bệnh: Hướng tiếp cận mới và toàn diện
- Ngành tôm Ấn Độ đối mặt với biến đổi khí hậu và tụt giảm sản lượng
- Kiên Giang: Nắng nóng kéo dài gây thiệt hại nhiều diện tích tôm nuôi tại Vĩnh Tuy
- Học viện Nông nghiệp Việt Nam: Giải mã nguyên nhân gây chết hàng loạt cá Nâu nuôi tại Huế
- Gần 40 năm bám đầm nuôi tôm, thu tiền tỉ mỗi năm ở Ninh Bình
- Đón đọc ấn phẩm Người Nuôi Tôm số tháng 5.2026
Tin mới nhất
T2,25/05/2026
- Ấn Độ: Ngành tôm đối mặt áp lực biến đổi khí hậu
- An Giang: Vùng nuôi tôm – lúa xã Đông Hòa đạt chứng nhận quốc tế ASC
- Xuất khẩu tôm Myanmar tăng trưởng trong niên vụ 2025–2026
- Nguồn cung tôm toàn cầu: Tăng trưởng chậm, châu Á đối mặt nhiều biến động
- Bệnh đường ruột trên tôm và biện pháp xử lý triệt để
- DOGACA – Giải pháp thảo dược giúp đường ruột tôm khỏe, giảm phụ thuộc kháng sinh
- Bệnh tôm nhợt thân – PDD: Cảnh báo mới cho quản lý sức khỏe tôm trong điều kiện độ mặn thấp
- EHP và áp lực dịch bệnh: Hướng tiếp cận mới và toàn diện
- Ngành tôm Ấn Độ đối mặt với biến đổi khí hậu và tụt giảm sản lượng
- Kiên Giang: Nắng nóng kéo dài gây thiệt hại nhiều diện tích tôm nuôi tại Vĩnh Tuy
- EHP và áp lực dịch bệnh: Hướng tiếp cận mới và toàn diện
- Con tôm sú thế hệ mới là thứ tôm gì mà ở Cần Thơ “nghe tên mà ham”, nhà nào nuôi là trúng?
- Ngành tôm miền Bắc: Nuôi bài bản, đẩy lùi rào cản
- Nông dân đổi đời nhờ mô hình canh tác hiện đại
- Trí tuệ nhân tạo (AI): Mở lối nghề nuôi trồng thuỷ sản thông minh
- Thực tiễn sản xuất tôm: Câu chuyện về giống nội địa và ngoại nhập
- Chứng nhận ASC: Cơ hội nâng tầm thuỷ sản Việt Nam
- “Đôi bạn cùng tiến” có lợi cho nuôi tôm?
- Học viện Nông nghiệp Việt Nam: Giải mã nguyên nhân gây chết hàng loạt cá Nâu nuôi tại Huế
- Bình Định tăng cường quản lý hoạt động khai thác, bảo vệ nguồn lợi thủy sản
- Thủy sản Việt Nam tìm cách thoát ‘bẫy phụ thuộc’
- Xuất khẩu tôm: Cần xây dựng thương hiệu gắn với chất lượng
- Giá trị xuất khẩu thủy sản khởi sắc những tháng đầu năm
- Tăng cường kiểm soát thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào châu Âu
- Đề xuất thành lập “nhóm đặc nhiệm” về thương mại nông sản Việt Nam – Singapore
- Hà Nội thúc đẩy phát triển nguồn lợi thủy sản
Các ấn phẩm đã xuất bản
- Bệnh đường ruột trên tôm và biện pháp xử lý triệt để
- DOGACA – Giải pháp thảo dược giúp đường ruột tôm khỏe, giảm phụ thuộc kháng sinh
- TOPGEN giới thiệu dòng tôm sú gia hóa thế hệ mới, ký kết hợp tác chiến lược với doanh nghiệp giống
- Thành lập Hiệp hội Tôm Việt Nam: Ngành tôm chính thức có tổ chức đại diện cấp quốc gia
- Giá tôm xuất khẩu tăng mạnh, tạo động lực phục hồi sản xuất và nâng tầm giá trị ngành tôm
- Gần 500 hộ nuôi khẳng định hiệu quả Advance Pro – Tiến bộ kỹ thuật của Grobest
- Người nuôi tôm phập phồng với “ngày nắng, đêm mưa”
- Động lực phát triển đột phá ngành thủy sản
- Công nghệ sinh học toàn diện: Giải pháp nuôi tôm thành công từ Tâm Việt
- Biện pháp kiểm soát khí độc Nitrite (NO2) trong mô hình nuôi tôm TLSS-547
- An toàn sinh học: Giải pháp then chốt cho bài toán dịch bệnh thủy sản
- Sử dụng sóng siêu âm để tính sinh khối ao nuôi tôm
- Máy sưởi ngâm: Cách mạng hóa nghề nuôi tôm ở Việt Nam
- Waterco: Giải pháp thiết bị hàng đầu trong nuôi trồng thủy sản
- GROSHIELD: “Trợ thủ đắc lực” giúp tôm đề kháng vững vàng hàng ngày, sẵn sàng về đích
- Năm mới, nỗi lo cũ: “Làm sao để tăng cường đề kháng cho tôm?”
- Vi sinh: Giải pháp mục tiêu toàn diện
- Grobest Việt Nam: Tiên phong ra mắt sản phẩm thức ăn chức năng hàng ngày Groshield, nâng cao tối đa sức đề kháng, hướng đến những vụ tôm về đích thành công trong năm tới
- Solagron Vietnam: Nhà sản xuất vi tảo công nghiệp đầu tiên mang dấu ấn Việt Nam
- Giải pháp giảm phát thải trong nuôi trồng thủy sản từ bột cá thủy phân





















