[Người Nuôi Tôm] – Trong bối cảnh nuôi trồng chịu tác động nặng nề từ biến động thị trường, khí hậu cực đoan và dịch bệnh, việc chủ động nguồn tôm bố mẹ, nâng cao chất lượng con giống và siết chặt quản lý đang trở thành bài toán chiến lược. Thực tế cho thấy cho thấy ngành tôm giống đã có những nỗ lực đáng kể, nhưng cũng phơi bày rõ những điểm nghẽn cần sớm tháo gỡ nếu muốn giữ vững đà tăng trưởng đến năm 2030.

Năng lực sản xuất giống của Việt Nam về cơ bản đáp ứng nhu cầu nuôi trồng trong nước
Tôm bố mẹ trong nước: tăng nhưng vẫn chưa đủ
Hoạt động sản xuất giống tôm của Việt Nam hiện tập trung chủ yếu tại một số địa phương trọng điểm. Bốn tỉnh Khánh Hòa, Lâm Đồng, Cà Mau và Vĩnh Long chiếm khoảng 93% số cơ sở sản xuất giống và đóng góp 63,6% tổng sản lượng cả nước. Các địa phương có thế mạnh về ương dưỡng giống gồm Khánh Hòa, Lâm Đồng, Vĩnh Long, Cà Mau và An Giang, chiếm gần 90% số cơ sở và khoảng 77% sản lượng giống toàn quốc. Nguồn tôm bố mẹ hiện nay đến từ nhập khẩu, khai thác tự nhiên và chọn tạo trong nước, với tổng nhu cầu hằng năm dao động từ 183.000 – 223.000 con.
Riêng năm 2025, tổng lượng tôm bố mẹ phục vụ sản xuất ước đạt gần 190.000 con, tương đương năm 2024, cơ bản đáp ứng nhu cầu về số lượng. Tuy nhiên, thách thức lớn của ngành giống tôm không nằm ở quy mô cung ứng, mà ở chất lượng, nguồn gốc và mức độ chủ động của nguồn tôm bố mẹ. Nguồn tôm bố mẹ sản xuất trong nước những năm gần đây có xu hướng tăng, song vẫn chiếm tỷ trọng khiêm tốn so với nhu cầu chung. Giai đoạn 2020 – 2025, lượng tôm bố mẹ trong nước dao động từ 21.300 đến 45.100 con mỗi năm. Đáng chú ý, năm 2025 ghi nhận mức cao nhất với khoảng 45.100 con tôm bố mẹ có nguồn gốc trong nước.
Đối với tôm sú, gần như toàn bộ tôm bố mẹ sử dụng cho sản xuất giống hiện nay có nguồn gốc trong nước. Trong đó, tôm sú bố mẹ khai thác từ tự nhiên vẫn duy trì ở mức tương đối ổn định. Song song với đó, tôm sú bố mẹ từ các chương trình chọn giống đang tăng nhanh. Nếu như năm 2020, số lượng tôm sú bố mẹ chọn giống mới đạt khoảng 1.070 con, thì đến năm 2024 đã tăng lên 16.790 con và ước đạt khoảng 17.000 con trong năm 2025.
Hiện nay, cả nước chỉ có Công ty Moana là đơn vị nhập khẩu Post Larvae của tôm sú chọn giống để ương nuôi và cung cấp tôm bố mẹ cho thị trường trong nước và xuất khẩu, với quy mô khoảng 1.000 – 2.000 con mỗi năm. Từ năm 2021, doanh nghiệp này cũng đã bắt đầu sản xuất ấu trùng Nauplius cung cấp cho các cơ sở ương dưỡng, với sản lượng ước đạt 1 – 1,5 tỷ con mỗi năm.
Đối với tôm thẻ chân trắng, nguồn bố mẹ trong nước tuy có xu hướng tăng nhưng vẫn rất hạn chế. Số liệu cho thấy năm 2020 cả nước chỉ có khoảng 20.240 con tôm thẻ bố mẹ nội địa, đến năm 2024 tăng lên 27.720 con và ước đạt khoảng 28.100 con trong năm 2025. Đáng chú ý, hiện nay trong nước chỉ có Tập đoàn Việt Úc là đơn vị duy nhất sản xuất được tôm thẻ chân trắng bố mẹ và chủ yếu sử dụng trong nội bộ tập đoàn.
Phụ thuộc lớn vào tôm bố mẹ nhập khẩu
Thực tế cho thấy, nguồn tôm bố mẹ nhập khẩu, đặc biệt là tôm thẻ chân trắng, vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo trong cơ cấu cung ứng. Dù xu hướng nhập khẩu đang giảm, mức độ phụ thuộc vẫn còn rất lớn. Cụ thể, lượng tôm thẻ bố mẹ nhập khẩu giảm từ 183.890 con năm 2020 xuống 123.520 con năm 2024 và ước còn khoảng 112.450 con trong năm 2025. Tôm thẻ bố mẹ nhập khẩu chủ yếu đến từ Hoa Kỳ và Thái Lan. Trong đó, nguồn nhập từ Mỹ chiếm khoảng 74,48% tổng lượng nhập khẩu.
Theo đánh giá của cơ quan quản lý, tôm thẻ chân trắng bố mẹ của Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc tới 87% vào nguồn nhập khẩu, trong khi tôm sú bố mẹ phụ thuộc khoảng 40% vào khai thác tự nhiên. Điều này khiến ngành giống tôm đối mặt với rủi ro lớn về an toàn sinh học, chi phí và khả năng chủ động trong dài hạn. Bên cạnh đó, sản xuất tôm giống thương phẩm tăng trưởng nhưng tiềm ẩn rủi ro. Năm 2024, cả nước sản xuất và cung ứng khoảng 159 tỷ con tôm giống, trong đó tôm thẻ chân trắng chiếm 109,8 tỷ con và tôm sú đạt 49,2 tỷ con. Sang năm 2025, sản lượng tôm giống ước đạt 167,58 tỷ con, tăng 5,4% so với năm 2024. Trong cơ cấu này, tôm thẻ chân trắng đạt khoảng 116,89 tỷ con, còn tôm sú đạt 50,69 tỷ con.
Những con số trên cho thấy năng lực sản xuất giống của Việt Nam về cơ bản đáp ứng nhu cầu nuôi trồng trong nước. Tuy nhiên, vấn đề chất lượng giống không đồng đều, tỷ lệ sống thấp và nguy cơ mầm bệnh vẫn là những thách thức dai dẳng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả nuôi thương phẩm.
Nút thắt con giống – không nằm ở thiếu chủ trương, mà ở cách tổ chức thực hiện
Theo kế hoạch năm 2026, tổng diện tích nuôi tôm nước lợ chiếm khoảng 750.000 ha. Sản lượng nuôi trồng đối với tôm nước lợ dự kiến đạt khoảng 1,24 triệu tấn, trong đó tôm sú 280.000 tấn và tôm thẻ chân trắng 960.000 tấn. Để đáp ứng các mục tiêu này, hoạt động sản xuất và cung ứng giống thủy sản được xác định là khâu “đi trước một bước”. Tổng sản lượng giống các loại trong năm 2026 được đặt mục tiêu đạt từ 390 – 410 tỷ con, trong đó riêng tôm giống nước lợ chiếm khoảng 160 – 200 tỷ con. Nhu cầu tôm bố mẹ ước khoảng 200.000 – 250.000 con mỗi năm, gồm 150.000 – 200.000 con tôm thẻ chân trắng và 50.000 – 60.000 con tôm sú. Đáng chú ý, mục tiêu đặt ra là tăng mạnh tỷ lệ tôm bố mẹ chọn giống trong nước, với tôm sú đạt 30.000 – 50.000 con mỗi năm (tăng 100 – 200% so với năm 2025) và tôm thẻ chân trắng đạt 45.000 – 60.000 con (tăng 70 – 120%).
Tuy nhiên, thực tế nhiều năm qua cho thấy, mặc dù Đề án phát triển ngành tôm đặt mục tiêu 10 tỷ USD nhưng vẫn loay hoay quanh mức 3,9 – 4,3 tỷ USD. Một trong những nguyên nhân cốt lõi là chất lượng giống chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất, tỷ lệ nuôi sống thấp, dịch bệnh phát sinh liên tục. Trong khi mô hình nuôi được quảng bá rất nhiều, tôm vẫn chết nhiều, chi phí đội lên, rủi ro dồn về phía người nuôi.

Chất lượng giống hiện nay được người nuôi đánh giá chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất, tỷ lệ nuôi sống thấp, dịch bệnh phát sinh liên tục
Tại Hội nghị Phát triển giống thủy sản tổ chức ngày 19/12 tại Ninh Bình, Thứ trưởng Bộ NN&MT Phùng Đức Tiến nhấn mạnh phải nhìn lại một cách nghiêm túc vai trò của giống trong bức tranh toàn ngành. Dù kim ngạch xuất khẩu năm nay đạt những con số ấn tượng, nhưng nếu không giải quyết được vấn đề giống thì mọi mục tiêu tăng trưởng chỉ dừng lại ở những con số báo cáo. Theo ông, vấn đề nằm ở chỗ chúng ta mới dừng lại ở tổng kết con số, chưa đi sâu phân tích từng khâu, từng đối tượng, đặc biệt là con giống – nơi bắt đầu của toàn bộ chuỗi giá trị.
“Cách tiếp cận “báo cáo cho đủ” là một trong những rào cản lớn nhất đối với đổi mới. Không phân tích rõ vì sao đạt, vì sao chưa đạt, không mổ xẻ tăng trưởng, hệ số chuyển đổi thức ăn, quy trình nuôi, thì năm nào cũng lặp lại những báo cáo cũ, không có đột phá mới. Trong bối cảnh dịch bệnh trên tôm chưa từng chấm dứt, câu hỏi “tại sao tôm vẫn chết nhiều dù có rất nhiều mô hình” vẫn chưa được trả lời một cách thuyết phục”.
Ở góc độ quản lý chuyên ngành, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư Trần Đình Luân tiếp tục làm rõ thêm một khía cạnh quan trọng khác của “nút thắt con giống”, đó là tính minh bạch và tổ chức sản xuất. Một điểm đáng chú ý là cách làm hiện nay vẫn còn manh mún, rời rạc. Đào tạo, tập huấn kỹ thuật chưa được tổ chức bài bản. Trong khi đó, Nhà nước vẫn tiếp tục đầu tư cho hệ thống trại giống, nhưng nếu không thay đổi cách tiếp cận thì sản phẩm nghiên cứu vẫn khó đi vào thực tiễn, lặp lại vòng luẩn quẩn “đầu tư nhiều – hiệu quả thấp”.
Điểm mới và cũng là cơ hội lớn cho ngành giống tôm nằm ở hành lang chính sách đã được mở ra. Những rào cản trước đây về thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học – công nghệ cơ bản đã được tháo gỡ. Các nghị định, thông tư mới cho phép đơn vị chủ trì và doanh nghiệp sở hữu, khai thác và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, kể cả khi sử dụng vốn ngân sách kết hợp vốn doanh nghiệp. Nghị quyết 57 ra đời cũng cho phép đa dạng hóa nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu, đào tạo và đổi mới sáng tạo.Tuy nhiên, chính sách chỉ thực sự phát huy tác dụng khi có sự thay đổi trong tư duy và cách làm.
Như vậy, “nút thắt con giống” không nằm ở thiếu chủ trương, mà nằm ở cách tổ chức thực hiện. Khi các khâu còn rời rạc, thiếu phối hợp, thiếu phân tích sâu và thiếu trách nhiệm cụ thể, thì dù đầu tư lớn đến đâu, hiệu quả cũng khó cải thiện. Ngược lại, nếu con giống được đặt đúng vị trí trung tâm của chuỗi giá trị, được quản lý bằng dữ liệu, công nghệ và liên kết thực chất, đây sẽ là đòn bẩy quan trọng nhất để ngành tôm Việt Nam thoát khỏi vòng luẩn quẩn tăng quy mô nhưng thiếu bền vững.
Phương Nhung

Ông Phùng Đức Tiến, Thứ trưởng Bộ NN&MT
Phải làm bài bản và có sự phối hợp chặt chẽ
Phát triển giống không thể làm ngắt quãng. Phải làm bài bản, dài hơi, liên tục, có sự kết hợp chặt chẽ giữa viện nghiên cứu và doanh nghiệp thì kết quả mới đi được vào sản xuất. Thực tế hiện nay, nhiều loại giống thủy sản vẫn phải nhập từ Trung Quốc, đó là điều rất đáng suy nghĩ. Muốn thay đổi thì phải đổi mới cách làm, phải có công nghệ, và không có con đường nào khác ngoài một cuộc cách mạng trong tổ chức thực hiện. Các đơn vị phải phối hợp, không được quay lưng với nhau. Phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu, doanh nghiệp, thú y, dinh dưỡng, an toàn sinh học và chuyển đổi số. Việc chia sẻ dữ liệu dịch bệnh, nguồn giống, vùng nuôi không còn là lựa chọn mà là yêu cầu bắt buộc trong bối cảnh số hóa toàn ngành. Phân công phải rõ, trách nhiệm phải cụ thể, làm đến nơi đến chốn thì mới mong ngành giống thủy sản, đặc biệt là giống tôm, thực sự bứt phá.

Ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm Ngư
Mọi khâu sản xuất đều phải được kết nối trong một hệ thống thống nhất
Với con giống tôm, trước hết là phải minh bạch về nguồn gốc xuất xứ và chất lượng để người nuôi yên tâm. Bên cạnh đó, việc tổ chức sản xuất giống đúng mùa vụ, cân đối cung – cầu, tránh tình trạng lúc thừa, lúc thiếu gây rủi ro cho sản xuất. Muốn làm được điều này thì công tác đào tạo, tập huấn kỹ thuật cho người nuôi và các cơ sở sản xuất giống là rất quan trọng. Nhưng đào tạo phải được tổ chức bài bản, thông qua hiệp hội, tổ chức nghề nghiệp, không làm rời rạc. Khi mọi khâu được kết nối trong một hệ thống thống nhất thì cơ quan quản lý cũng thuận lợi hơn rất nhiều.
P.V (Ghi)
- Triệt phá đường dây buôn lậu hơn 90.000 con tôm hùm giống qua đường hàng không
- ‘Nuôi’ cá, tôm trong lò phản ứng sinh học – cơ hội cho startup Việt
- Mô hình tôm – lúa ở ĐBSCL: Hướng đi bền vững trước biến đổi khí hậu nhưng còn nhiều nút thắt
- Liên kết sản xuất giúp nuôi tôm Thanh Hóa phát triển bền vững
- Bài toán kinh tế nuôi tôm vụ đông: Cân bằng rủi ro và lợi nhuận
- Tôm Việt Nam trước ngưỡng thích ứng mới trong chu kỳ tăng trưởng bền vững
- Giá tôm tăng cao, sức mua chậm
- Cà Mau giữ vững thương hiệu tôm trong cạnh tranh quốc tế
- Nuôi tôm công nghệ cao trở thành trụ cột trong chiến lược kinh tế của Vĩnh Long
- Thông tư mới quy định danh mục động vật thủy sản phải kiểm dịch và được miễn kiểm dịch
Tin mới nhất
T3,27/01/2026
- Triệt phá đường dây buôn lậu hơn 90.000 con tôm hùm giống qua đường hàng không
- Nút thắt “con giống”: Không thiếu chủ trương, thiếu cách làm
- ‘Nuôi’ cá, tôm trong lò phản ứng sinh học – cơ hội cho startup Việt
- Mô hình tôm – lúa ở ĐBSCL: Hướng đi bền vững trước biến đổi khí hậu nhưng còn nhiều nút thắt
- Liên kết sản xuất giúp nuôi tôm Thanh Hóa phát triển bền vững
- Giải pháp chống stress cho tôm bằng phụ gia thức ăn
- Bài toán kinh tế nuôi tôm vụ đông: Cân bằng rủi ro và lợi nhuận
- Tôm Việt Nam trước ngưỡng thích ứng mới trong chu kỳ tăng trưởng bền vững
- Giá tôm tăng cao, sức mua chậm
- Cà Mau giữ vững thương hiệu tôm trong cạnh tranh quốc tế
- Con tôm sú thế hệ mới là thứ tôm gì mà ở Cần Thơ “nghe tên mà ham”, nhà nào nuôi là trúng?
- Ngành tôm miền Bắc: Nuôi bài bản, đẩy lùi rào cản
- Nông dân đổi đời nhờ mô hình canh tác hiện đại
- Trí tuệ nhân tạo (AI): Mở lối nghề nuôi trồng thuỷ sản thông minh
- Thực tiễn sản xuất tôm: Câu chuyện về giống nội địa và ngoại nhập
- Chứng nhận ASC: Cơ hội nâng tầm thuỷ sản Việt Nam
- “Đôi bạn cùng tiến” có lợi cho nuôi tôm?
- Làm giàu từ nuôi tôm công nghệ cao
- Bình Định tăng cường quản lý hoạt động khai thác, bảo vệ nguồn lợi thủy sản
- Thủy sản Việt Nam tìm cách thoát ‘bẫy phụ thuộc’
- Xuất khẩu tôm: Cần xây dựng thương hiệu gắn với chất lượng
- Giá trị xuất khẩu thủy sản khởi sắc những tháng đầu năm
- Tăng cường kiểm soát thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào châu Âu
- Đề xuất thành lập “nhóm đặc nhiệm” về thương mại nông sản Việt Nam – Singapore
- Hà Nội thúc đẩy phát triển nguồn lợi thủy sản
- Sản lượng thủy sản tháng đầu năm tăng nhẹ so với cùng kỳ năm ngoái
Các ấn phẩm đã xuất bản
- Giá tôm xuất khẩu tăng mạnh, tạo động lực phục hồi sản xuất và nâng tầm giá trị ngành tôm
- Gần 500 hộ nuôi khẳng định hiệu quả Advance Pro – Tiến bộ kỹ thuật của Grobest
- Người nuôi tôm phập phồng với “ngày nắng, đêm mưa”
- Động lực phát triển đột phá ngành thủy sản
- Công nghệ sinh học toàn diện: Giải pháp nuôi tôm thành công từ Tâm Việt
- Biện pháp kiểm soát khí độc Nitrite (NO2) trong mô hình nuôi tôm TLSS-547
- Ngành chức năng và nông dân Quảng Nam cùng gỡ khó cho nuôi tôm nước lợ
- Thời tiết bất lợi gây thiệt hại hơn 27 triệu con tôm sú, tôm thẻ nuôi
- [Tuyển dụng] – Công ty TNHH Seven Hills Trading tuyển dụng nhiều vị trí hấp dẫn trong năm 2025
- Nhiều diện tích tôm nuôi của Nghệ An bị bệnh đốm trắng
- An toàn sinh học: Giải pháp then chốt cho bài toán dịch bệnh thủy sản
- Sử dụng sóng siêu âm để tính sinh khối ao nuôi tôm
- Máy sưởi ngâm: Cách mạng hóa nghề nuôi tôm ở Việt Nam
- Waterco: Giải pháp thiết bị hàng đầu trong nuôi trồng thủy sản
- GROSHIELD: “Trợ thủ đắc lực” giúp tôm đề kháng vững vàng hàng ngày, sẵn sàng về đích
- Năm mới, nỗi lo cũ: “Làm sao để tăng cường đề kháng cho tôm?”
- Vi sinh: Giải pháp mục tiêu toàn diện
- Grobest Việt Nam: Tiên phong ra mắt sản phẩm thức ăn chức năng hàng ngày Groshield, nâng cao tối đa sức đề kháng, hướng đến những vụ tôm về đích thành công trong năm tới
- Solagron Vietnam: Nhà sản xuất vi tảo công nghiệp đầu tiên mang dấu ấn Việt Nam
- Giải pháp giảm phát thải trong nuôi trồng thủy sản từ bột cá thủy phân




















