Ngành tôm 2026: Áp lực cạnh tranh và niềm tin phục hồi

[Người Nuôi Tôm] – Năm 2026 được dự báo tiếp tục nhiều thách thức khi chi phí nuôi cao khiến giá tôm thương phẩm neo ở mức cao, làm giảm sức cạnh tranh của tôm Việt Nam. Bên cạnh đó là rủi ro từ rào cản thương mại, biến động địa chính trị và sức khỏe kinh tế toàn cầu. Dù vậy, với kinh nghiệm và bản lĩnh vượt khó, doanh nghiệp ngành tôm vẫn kỳ vọng vào những tín hiệu tích cực trong năm mới này.

 

Nghề nuôi chưa hết khó

Thực tế cho thấy, những năm gần đây, tuy ngành tôm vẫn có sự tăng trưởng nhất định, thậm chí ở năm 2025 còn thiết lập kỷ lục xuất khẩu. Nhưng gần như năm nào doanh nghiệp và người nuôi tôm cũng đều hết sức vất vả khi phải luôn trong tâm thế của người vượt dốc. Nghề nuôi vốn được xem là trụ cột quan trọng có tính quyết định đến sự phát triển bền vững của cả chuỗi giá trị ngành tôm, nhưng hiện đang là mắt xích yếu nhất. Điểm yếu đó đến từ chuyện thiếu vốn, từ chất lượng con giống chưa ổn định, là dịch bệnh còn diễn biến phức tạp, là tỷ lệ nuôi thành công thấp dẫn đến giá thành cao làm giảm sức cạnh tranh, là sự bấp bênh trong thu nhập của người nuôi tôm… Đó cũng là lý do mà hầu hết các doanh nghiệp đều có đôi chút lo lắng về một nền móng vững chắc cho sự tăng trưởng của ngành tôm ở giai đoạn trước mắt cũng như trong tương lai.

Nỗi lo cho mắt xích nuôi tôm vẫn chưa dừng lại khi hiện tại, ngành tôm vẫn có quá ít tôm có “lý lịch”, trong khi hầu hết thị trường tiêu thụ đều đặt ra yêu cầu này. Ông Hồ Quốc Lực, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Thực phẩm Sao Ta lo rằng: “Việc chậm cấp mã số cho cơ sở nuôi tôm quá chậm gây rất nhiều khó khăn cho doanh nghiệp trong việc chứng minh, thuyết phục khách hàng về khả năng kiểm soát nguyên liệu của mình”. Cùng nỗi lo chuyện “lý lịch” con tôm Việt, ông Lê Văn Quang, Chủ tịch Công ty Cổ phần Tập đoàn Thủy sản Minh Phú, cho rằng, muốn bán được tôm vào thị trường nào, chúng ta phải chấp nhận tuân thủ theo tiêu chuẩn của thị trường đó. Riêng 3 thị trường nhập khẩu tôm lớn của Việt Nam là: Hoa Kỳ, Nhật và EU, nếu con tôm của chúng ta không đạt chứng nhận ASC, BAP hoặc con tôm sạch không nhiễm kháng sinh, vi sinh hay các chất cấm khác và có thể truy xuất nguồn gốc dễ dàng thì sẽ rất khó bán”.

 

Thị trường vẫn rất khó lường

Nói đến rủi ro thị trường, một trong những vấn đề được doanh nghiệp quan tâm nhất hiện nay vẫn là các rào cản về thuế quan và phi thuế quan; trong đó, đáng lo nhất là vấn đề thuế chống bán phá giá (AD), thuế đối ứng; rào cản kỹ thuật (kiểm tra nhập khẩu khắt khe), rào cản quy định môi trường, phúc lợi động vật, phát thải, quyền lợi người lao động, truy xuất nguồn gốc… Theo ông Hồ Quốc Lực, những rủi ro đối với con tôm Việt Nam ở thị trường Hoa Kỳ là hiện hữu và không khó để nhận diện. Đó là việc tăng tần suất kiểm tra hàng hóa từ Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA), gây khó khăn trong kế hoạch tiêu thụ do không xác định lô hàng sẽ bị lưu kho bao lâu vì FDA kiểm tra không xác định hạn giải phóng lô hàng. Thứ hai là các sắc thuế có thể biến động không thể lường trước, gây khó cho việc tính toán hiệu quả kinh doanh, mà điển hình gần đây nhất là thuế chống bán phá giá (AD) và thuế đối ứng. Thứ ba là cạnh tranh về sản lượng và giá rẻ từ tôm Ecuador và Ấn Độ.

Thuế đối ứng đối với con tôm xuất khẩu vào Hoa Kỳ hiện là 20%. Nhưng vấn đề doanh nghiệp quan tâm chính là mức thuế của các đối thủ lớn. Hiện giờ mức thuế tôm của Ấn Độ (chiếm gần 40% lượng tôm nhập vào Hoa Kỳ) là 50%, nên rõ ràng là lợi thế cho tôm Việt Nam vẫn còn. Điều đáng lo nhất chính là thuế AD với mức phán quyết sơ bộ đối với tôm Việt Nam lên đến 35,29%, cao hơn rất nhiều so với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp. Tất nhiên, thuế AD đối với tôm Việt Nam ở mức nào sẽ phải còn chở phán quyết cuối cũng của Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC), dự kiến diễn ra vào ngày 16/2 tới (tức nhằm đêm Giao thừa). Tâm lý chung hiện nay của doanh nghiệp là khá tự tin, bởi theo họ, rủi ro ở thị trường Hoa Kỳ là hiện hữu nhưng ở mức có thể quản trị, kiểm soát vì ngành tôm Việt đã có kinh nghiệm nhiều năm với vụ kiện này. Mặt khác bối cảnh Hoa Kỳ đang áp thuế mạnh lên tôm Ấn Độ khiến họ không muốn “đóng” thêm một nguồn cung lớn nữa sẽ gây thiếu hụt so nhu cầu nội tại.

Năm 2026 được dự báo tiếp tục là một năm nhiều thách thức với ngành tôm Việt Nam

 

Tự tin vào bản lĩnh và lợi thế

Năm 2026 được dự báo tiếp tục là một năm khó khăn, nếu không muốn nói sẽ là rất khó. Đó là, nuôi tôm còn khó khăn, nên giá tôm thương phẩm tiếp tục neo cao, giảm sức cạnh tranh tôm Việt trên thị trường thế giới. Đặc biệt là những rủi ro đến từ các rào cản thương mại. Tuy nhiên, điều mà doanh nghiệp đặt nhiều kỳ vọng nhất chính là phán quyết cuối cùng về thuế chống bán phá giá (dự kiến trong tháng 2026) sẽ ở mức có lợi cho xuất khẩu. Riêng vấn đề thuế đối ứng, các doanh nghiệp đặt niềm tin vào kết quả các phiên đàm phán tiếp theo của chính phủ để kéo giảm nhiều hơn nữa, nhằm tăng tính cạnh tranh cho con tôm Việt tại thị trường này.

Những quy định sản xuất theo tiêu chuẩn của thị trường chắc chắn sẽ gây khó khăn nhất định cho xuất khẩu tôm Việt Nam trong thời gian trước mắt, nhưng ít nhiều cũng giúp ngành tôm có những thay đổi lớn để phù hợp với thị trường xuất khẩu. Kỳ vọng nhiều, nhưng các doanh nghiệp cũng không thiếu sự tự tin vào con đường phía trước. Đó là một Sao Ta tiếp tục đặt mục tiêu tăng trưởng ít nhất 10% trong năm 2026. Là một VinaCleanfood đã triển khai các bước cho vụ tôm mới với quy mô diện tích lớn hơn cùng một kế hoạch hết sức chu đáo. Trong đó, tập trung mạnh vào đối tượng tôm thẻ đạt các tiêu chí của chuỗi cung ứng toàn cầu, nhằm hạn chế thấp những rủi ro đến từ rào cản thuế quan và phi thuế quan. Cùng với đó là đa dạng thêm các mặt hàng từ cá rô phi, tôm sú… để cung ứng cho phân khúc thị trường cao cấp.

Riêng lợi thế về tôm chế biến sâu sẽ tiếp tục được các doanh nghiệp phát huy với các sản phẩm chủ lực, như: bao bột, tôm chiên, tôm phối chế… để bán vào phân khúc thị phần cao cấp có giá cao, nhưng lại không bị áp thuế chống bán phá giá.

Các phân khúc thị trường cao cấp tại EU, Hoa Kỳ hay Nhật Bản đều có được giá tốt và ổn định, nhưng theo các doanh nghiệp, ngoài Việt Nam và Thái Lan, hiện có rất ít quốc gia đáp ứng được yêu cầu từ các thị trường này. Liên quan đến lợi thế hàng giá trị gia tăng, theo ông Hồ Quốc Lực, trình độ chế biến của các doanh nghiệp ngành tôm Việt Nam hiện thuộc hàng “chiếu trên” so với nhiều nước sản xuất tôm lớn trên thế giới. Ông Hồ Quốc Lực chia sẻ thêm: “Đơn cử như thị trường Nhật Bản luôn có giá khá tốt, nhưng sản phẩm đòi hỏi phải có sự tỉ mỉ cao trong quá trình chế biến, nên muốn bán được hàng vào thị trường này, ngoài việc đảm bảo các tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh thực phẩm ra, sản phẩm có phải có tính thẩm mỹ cao, mà điều này thì Sao Ta và nhiều doanh nghiệp Việt Nam khác rất lợi thế nhờ trình độ tay nghề chế biến của công nhân Việt Nam rất khéo léo”.

Cũng theo ông Lực, dù thị trường hiện có biến động lớn nhưng ở phân khúc cao cấp, sự biến động này là không quá lớn. Còn thị trường gần như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, hiện nay họ đang nhập sản phẩm chế biến sâu cao cấp nên là lợi thế của doanh nghiệp Việt Nam và gần như đây là sân chơi riêng cho tôm Việt Nam. Thứ hai là bán vào thị trường này không phải mang giá cả tăng giả tạo nhờ cước vận chuyển thấp, do cự ly gần. Nhật là thị trường thứ 2 (có khi là thứ 3), Hàn Quốc là thứ 5 và Úc là thứ 7 của tôm Việt. Tuy nhiên, sách lược thị trường cũng cần đi liền với quy mô nuôi. Vấn đề này cũng còn tùy thuộc vào cách ứng xử của mỗi doanh nghiệp.

Hoàng Nhã

Tin mới nhất

T2,13/04/2026