[Người Nuôi Tôm] – Quản lý sức khoẻ và phòng bệnh cho tôm được xem là vấn đề quyết định đến sự thành công. Trong đó, vấn đề then chốt là tăng cường sức đề kháng cho tôm thông qua các cơ chế miễn dịch không đặc hiệu.

Tôm và hệ miễn dịch không đặc hiệu
Hệ thống miễn dịch đặc hiệu là hệ thống tự vệ chuyên biệt, nhận diện và tiêu diệt chính xác các tác nhân gây bệnh như vi khuẩn, virus và có thể được kích hoạt khi cơ thể tiếp xúc với mầm bệnh và sản sinh kháng thể. Đối với động vật bậc cao, con người có thể giúp chúng chủ động tạo kháng thể thông qua việc chủng ngừa vacxin. Tuy nhiên, tôm là động vật bậc thấp, không có trí nhớ miễn dịch nên chúng ta không thể áp dụng các công nghệ vacxin để giúp chúng xây dựng khả năng đề kháng.
Ngoài việc tự vệ nhờ hàng rào vật lý là bề mặt cơ thể, biểu mô hệ tiêu hóa, tôm chỉ có hệ thống miễn dịch không đặc hiệu hay còn gọi là miễn dịch tự nhiên, phòng vệ bẩm sinh. Hệ thống miễn dịch không đặc hiệu này được hình thành ngay từ khi sinh ra và hoạt động suốt đời. Miễn dịch không đặc hiệu chống lại mọi tác nhân gây bệnh một cách không chuyên biệt mà sinh vật không cần tiếp xúc với mầm bệnh trước đó. Nó tấn công chung các tác nhân ngoại lai mà không thể phân biệt loại vi khuẩn hay virus cụ thể. Miễn dịch không đặc hiệu ngăn chặn mầm bệnh xâm nhập và loại bỏ chúng ngay giai đoạn đầu, đồng thời hỗ trợ kích hoạt hệ miễn dịch đặc hiệu (ở động vật bậc cao). Do đó, người nuôi tôm chỉ có thể giúp tăng cường sức đề kháng cho tôm thông qua các kĩ thuật dựa trên các nguyên lý này.
Cơ chế và kích thích miễn dịch không đặc hiệu cho tôm
Xây dựng hàng rào cơ học
Toàn bộ cơ thể tôm được bảo vệ bởi lớp vỏ chitin vững chắc. Ngoài việc bảo vệ cơ thể khỏi những tác động cơ học, lớp vỏ có thể giúp tôm chống lại sự xâm nhập của các vi sinh vật. Vì thế, khi lớp vỏ bị tổn thương cũng là lúc tôm dễ bị nhiễm các bệnh do nấm, vi khuẩn. Do đó, không ngạc nhiên sau khi vận chuyển, san thưa, tôm có thể phát bệnh hàng loạt do bị stress và tổn thương từ lớp “áo giáp” bảo vệ. Để giữ lớp “áo giáp” này vững chắc, tôm cần được cung cấp đầy đủ về dinh dưỡng và đặc biệt là khoáng. Môi trường xấu và có nhiều nitrite (NO2 – ) cũng là những lý do khiến cho lớp áo giáp này mềm, mỏng và không được thay mới, từ đó dễ nhiễm bệnh.
Môi trường nước thường tồn tại cả vi sinh vật hữu ích và rất nhiều vi sinh vật gây bệnh. Đặc biệt, chúng có thể dễ dàng xâm nhập vào cơ thể tôm qua đường tiêu hoá khi tôm ăn uống. Vì thế, sức khoẻ thành ống tiêu hoá liên quan chặt chẽ đến khả năng tự vệ của tôm. Sức khoẻ cơ học đường ruột được đánh giá bằng khả năng liên kết của các tế bào thành ruột vững chắc hay không. Hoạt động nhu động ruột không tốt, đặc biệt khi có sự tồn tại của độc tố nấm mốc trong thức ăn có thể gây tắc ruột, rối loạn tiêu hoá, tạo điều kiện cho các vi sinh vật gây bệnh phát triển.
Ổn định hàng rào hoá học
Khác với cá, tôm không có lớp màng nhầy mucus bảo vệ bề mặt cơ thể. Việc tự vệ ở khía cạnh hoá học chủ yếu thông qua các chất hoá học tồn tại trong ống tiêu hoá. Cơ chế bảo vệ thông thường được thực hiện thông qua những biến đổi về pH. Vi sinh vật gây bệnh tồn tại trong môi trường nước thường có giá trị pH hơi kiềm (7,5 – 8,5) khi đi vào trong dạ dày của tôm thường có pH axit nên có thể bị tiêu diệt hoặc gây bất hoạt. Vì thế, giữ cho ống tiêu hoá khoẻ mạnh có thể được xem là đảm bảo 80 – 90% mối nguy cho tôm. Sử dụng các sản phẩm acid hữu cơ có khả năng phòng bệnh đường ruột khá tốt cho tôm. Trong số các sản phẩm liên quan, Butyrate là một trong những cũng được chứng minh mang lại nhiều lợi ích phòng bệnh đường tiêu hoá. Khi vào ruột, Butyrate vừa giải phóng axit Butyric tạo pH thấp tiêu diệt vi sinh vật gây bệnh, vừa cung cấp năng lượng để tái tạo vi lông nhung ruột, xây dựng hàng rào cơ học vững chắc ngăn cản sự xâm nhập của các vi sinh vật gây bệnh. Cũng theo hướng ứng dụng này, nhiều sản phẩm có nguồn gốc thực vật.
Chất chiết thảo dược cũng được nghiên cứu và sử dụng đưa vào trong ống tiêu hoá của tôm với cùng mục đích trên.
Kích thích cơ chế thực bào, tự vệ thể dịch
Tôm chỉ có hệ thống miễn dịch không đặc hiệu, bao gồm hai thành phần chính là miễn dịch tế bào và miễn dịch thể dịch. Miễn dịch tế bào hoạt động bằng cách nhận biết các tác nhân lạ thông qua tế bào máu (huyết bào) và các protein trong huyết tương, sau đó tiêu diệt chúng bằng các cơ chế thực bào, đóng gói, melanin hóa.
Cơ thể tôm có thể tăng cường sản xuất bạch cầu, đại thực bào khi có sự xâm nhập của các tác nhân gây bệnh. Thực bào là phản ứng tự nhiên, là hình thức tự vệ bẩm sinh của tất cả các động vật. Tế bào máu (bạch cầu) phát hiện, bao vây và nuốt các vật lạ, sau đó tiết enzyme để tiêu diệt chúng. Các mầm bệnh cũng có thể bị cô lập lại và khu trú trong các mô liên kết thông qua sự hoạt động của các tế bào Melanin và các tế bào dạng sợi fibrin. Các tế bào này có thể làm cứng hóa tạo ra những thành vách cô lập vi sinh vật gây bệnh rồi sau đó tiêu diệt chúng.
Quan trọng hơn cả, tôm có thể sản xuất các protein miễn dịch trong huyết tương còn gọi là protein kháng khuẩn, protein kích hoạt bổ thể. Khi vi sinh vật gây bệnh xâm nhập vào cơ thể tôm, các phản ứng sinh học thông thường dẫn đến các hiện tượng viêm, sưng, thay đổi sắc tố. Đây là các phản ứng tự vệ thông thường của động vật và kết quả thường sản sinh ra các bổ thể, interferon nếu chúng giành “chiến thắng”. Để tăng cường khả năng kháng bệnh cho tôm người nuôi thường cung cấp các dưỡng chất tốt nhất cho tôm đồng thời sử dụng các chất có khả năng kích thích miễn dịch.
Các chất kích thích miễn dịch thường dùng cho tôm:
Các chất kích thích miễn dịch từ vi sinh vật:
Beta-glucan chất kích thích miễn dịch phổ biến nhất có nguồn gốc từ vi sinh vật. Nó là hợp chất được chiết xuất từ nấm men có cấu trúc từ các đơn phân tử D-glucose gắn với nhau qua liên kết Beta-glycoside. Beta-glucan có tác dụng kích thích hệ miễn dịch bẩm sinh của tôm, tăng cường sức đề kháng, chống lại dịch bệnh gây ra bởi các nhóm vi khuẩn gây bệnh, đặc biệt có thể ức chế cả virus đốm trắng (WSSV) trên tôm. Ngoài ra, hiện nay người ta có thể ứng dụng rất nhiều loại vi sinh vật để tạo ra các sản phẩm pre-biotics, pro-biotics sử dụng trên tôm. Phổ biến hơn cả là các chủng vi khuẩn Bacillus.
Kháng thể lòng đỏ trứng (IgY): Gần đây, kháng thể IgY đã thu hút sự chú ý đáng kể khi nó có thể cản trở sự kết dính của vi khuẩn gây bệnh với tế bào chủ ở người và động vật. Ở động vật thủy sản, người ta đã chứng minh rằng IgY có hiệu quả trong việc chống lại các vi khuẩn gây bệnh như Vibrio harveyi và V. parahaemolyticus trên tôm thẻ chân trắng.
Acid amin: Rất nhiều các nghiên cứu gần đây chỉ ra bổ sung thêm các sản phẩm có chứa nucleotide, Lysine, Methionine, L-Arginine vào trong khẩu phần thức ăn giúp tôm nhanh hồi phục sau khi bị tổn thương và tăng cường chức năng gan. Ngoài ra các acid amin này còn giúp tôm tăng cường chức năng của các tế bào chuyển hóa như lymphocyte (tế bào bạch huyết, lympho bào), macrophages (các đại thực bào), từ đó, giúp tôm giảm stress, tăng trưởng tốt và giảm FCR.
Các chiết xuất thảo dược: Hiện nay, sử dụng các sản phẩm thảo dược với định hướng thích miễn dịch vừa tiết kiệm lại có hiệu quả cao cho người nuôi tôm. Nhiều hợp chất có nguồn gốc thực vật được chứng minh có tác dụng kích thích miễn dịch rõ rệt trên tôm như: tỏi, quế, hương thảo, nghệ, cỏ mực, bạc hà, trà xanh, sầu đâu… Hầu hết các loại thảo dược này có chứa các chất có hoạt tính chống ôxy hóa, kháng khuẩn, kháng nấm và kháng viêm, tăng cường hệ miễn dịch bẩm sinh. Nhiều người nuôi sử dụng chúng như một liệu pháp thay thế kháng sinh hiệu quả, không tạo kháng thuốc và khả năng hoạt động rộng.
Vitamin: Các vitamin thiết yếu như Vitamin C, E, A, D3 và nhóm B đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc kích thích miễn dịch cho tôm. Trong đó, Vitamin C (chống stress, tăng đề kháng), Vitamin E (chống oxy hóa), giúp tăng sức đề kháng và chống lại stress. Các Vitamin A & D3 và Vitamin nhóm B cần thiết cho các quá trình chuyển hóa (canxi, photpho), duy trì sức đề kháng và phát triển.
Sử dụng thực khuẩn thể:
Việc quản lý sử dụng thực khuẩn thể ở nước ta vẫn mới mẻ và còn nhiều tranh cãi. Dù vậy, thực tế đã chứng minh sử dụng các thực khuẩn thể có khả năng tiêu diệt mầm bệnh khá tốt giúp phòng bệnh cho tôm hiệu quả hơn. Tuy nhiên, sản xuất thực khuẩn thể đòi hỏi nhiều công nghệ, kĩ thuật cao, bảo quản khó khăn hơn và đặc biệt tính đặc hiệu của chúng rất nhạy. Vì thế, sản xuất thực khuẩn thể cần dựa trên các chủng gây bệnh bản địa và thường xuyên phải cập nhật để hạn chế sự thích nghi của các vi sinh vật gây bệnh./.
TS.Nguyễn Ngọc Tuấn Khoa Thủy sản, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
E: nntuan245@gmail.com / T: 0973990198
- bệnh về tôm li>
- miễn dịch li>
- nuôi tôm li> ul>
- Giải pháp ổn định chất lượng nước ao nuôi tôm trên bạt bằng màu nhân tạo COLOR-TL
- Vùng cát ven biển chuyển mình nhờ nuôi tôm công nghệ cao
- Cần Thơ thúc đẩy nuôi tôm công nghệ cao, hướng tới phát triển thủy sản bền vững
- Đồng Tháp: Giá tôm nguyên liệu giảm mạnh
- Ngọc Việt Group phối hợp Đại lý Thanh Thủy đồng hành cùng người nuôi Quảng Ninh, thúc đẩy vụ mùa nuôi tôm bền vững
- IFC và Minh Phú hợp tác thúc đẩy nuôi tôm bền vững tại Việt Nam
- Phê duyệt kế hoạch phòng, chống dịch bệnh thủy sản giai đoạn 2026 – 2030 trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
- Cà Mau: Nhân rộng mô hình RAS-IMTA, hướng tới nuôi tôm bền vững, không xả thải
- Khánh Hòa: Nghề nuôi tôm hùm tìm hướng đi bền vững trong bối cảnh thị trường biến động
- Xuất khẩu tôm Việt Nam sang Trung Quốc tăng 58%
Tin mới nhất
T4,25/03/2026
- Miễn dịch không đặc hiệu: Chìa khóa phòng bệnh cho tôm
- Giải pháp ổn định chất lượng nước ao nuôi tôm trên bạt bằng màu nhân tạo COLOR-TL
- Vùng cát ven biển chuyển mình nhờ nuôi tôm công nghệ cao
- Cần Thơ thúc đẩy nuôi tôm công nghệ cao, hướng tới phát triển thủy sản bền vững
- Đồng Tháp: Giá tôm nguyên liệu giảm mạnh
- Ngọc Việt Group phối hợp Đại lý Thanh Thủy đồng hành cùng người nuôi Quảng Ninh, thúc đẩy vụ mùa nuôi tôm bền vững
- IFC và Minh Phú hợp tác thúc đẩy nuôi tôm bền vững tại Việt Nam
- Phê duyệt kế hoạch phòng, chống dịch bệnh thủy sản giai đoạn 2026 – 2030 trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
- Cà Mau: Nhân rộng mô hình RAS-IMTA, hướng tới nuôi tôm bền vững, không xả thải
- Khánh Hòa: Nghề nuôi tôm hùm tìm hướng đi bền vững trong bối cảnh thị trường biến động
Các ấn phẩm đã xuất bản
- Giá tôm xuất khẩu tăng mạnh, tạo động lực phục hồi sản xuất và nâng tầm giá trị ngành tôm
- Gần 500 hộ nuôi khẳng định hiệu quả Advance Pro – Tiến bộ kỹ thuật của Grobest
- Người nuôi tôm phập phồng với “ngày nắng, đêm mưa”
- Động lực phát triển đột phá ngành thủy sản
- Công nghệ sinh học toàn diện: Giải pháp nuôi tôm thành công từ Tâm Việt
- Biện pháp kiểm soát khí độc Nitrite (NO2) trong mô hình nuôi tôm TLSS-547
- Ngành chức năng và nông dân Quảng Nam cùng gỡ khó cho nuôi tôm nước lợ
- Thời tiết bất lợi gây thiệt hại hơn 27 triệu con tôm sú, tôm thẻ nuôi
- [Tuyển dụng] – Công ty TNHH Seven Hills Trading tuyển dụng nhiều vị trí hấp dẫn trong năm 2025
- Nhiều diện tích tôm nuôi của Nghệ An bị bệnh đốm trắng
- An toàn sinh học: Giải pháp then chốt cho bài toán dịch bệnh thủy sản
- Sử dụng sóng siêu âm để tính sinh khối ao nuôi tôm
- Máy sưởi ngâm: Cách mạng hóa nghề nuôi tôm ở Việt Nam
- Waterco: Giải pháp thiết bị hàng đầu trong nuôi trồng thủy sản
- GROSHIELD: “Trợ thủ đắc lực” giúp tôm đề kháng vững vàng hàng ngày, sẵn sàng về đích
- Năm mới, nỗi lo cũ: “Làm sao để tăng cường đề kháng cho tôm?”
- Vi sinh: Giải pháp mục tiêu toàn diện
- Grobest Việt Nam: Tiên phong ra mắt sản phẩm thức ăn chức năng hàng ngày Groshield, nâng cao tối đa sức đề kháng, hướng đến những vụ tôm về đích thành công trong năm tới
- Solagron Vietnam: Nhà sản xuất vi tảo công nghiệp đầu tiên mang dấu ấn Việt Nam
- Giải pháp giảm phát thải trong nuôi trồng thủy sản từ bột cá thủy phân





















