Giải pháp động cơ không chổi than: Giảm 50% chi phí điện trong nuôi tôm

[Người Nuôi Tôm] – Ứng dụng động cơ không chổi than kết hợp điện mặt trời đang giúp Hợp tác xã NTTS Ninh Phú, phường Hòa Thắng, tỉnh Khánh Hòa cắt giảm tới 50% chi phí điện, từ 20 xuống còn khoảng 10 triệu đồng/ao/tháng, qua đó hạ giá thành nuôi tôm trong bối cảnh chi phí đầu vào tăng cao.

 

Chi phí nuôi “ăn mòn” lợi nhuận

Trong bức tranh chung của ngành nuôi trồng thủy sản hiện nay, áp lực chi phí đang trở thành điểm nghẽn lớn nhất.

Theo ông Lê Đình Khiêm, Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản và Biển đảo tỉnh Khánh Hòa, thời gian qua, biến động mạnh của giá nhiên liệu đã kéo theo hàng loạt chi phí đầu vào trong nuôi trồng thủy sản tăng cao. Cụ thể, giá thức ăn hỗn hợp tăng 7–10%, khiến giá thành nuôi tăng thêm 5–10%. Các yếu tố khác như hóa chất, vi sinh, chế phẩm sinh học và con giống cũng tăng từ 10–15%, tạo áp lực lớn lên lợi nhuận của người nuôi, đặc biệt là các hộ nuôi tôm nước lợ.

Đặc biệt, chi phí điện đang trở thành gánh nặng đáng kể. Với đặc thù phải vận hành liên tục các hệ thống quạt nước, sục khí, xi phông và xử lý môi trường, tiền điện mỗi ao nuôi có thể lên tới hàng chục triệu đồng mỗi tháng.

Trong bối cảnh đó, câu chuyện tại Hợp tác xã (HTX) Nuôi trồng thủy sản Ninh Phú nổi lên như một hướng đi khác biệt. Không đầu tư vào các thiết bị đắt tiền, ông Lê Minh Chính, Giám đốc HTX, người có gần 40 năm kinh nghiệm nuôi tôm, đã lựa chọn một con đường ít ai nghĩ tới: tận dụng linh kiện cũ, phế liệu cơ khí để tự nghiên cứu và chế tạo hệ thống tiết kiệm điện.

Ông Lê Minh Chính với động cơ do mình cải tiến giúp tiết kiệm điện trong quá trình nuôi tôm (Ảnh: Hải Lăng/Báo Khánh Hòa)

 

Hệ thống động cơ không chổi than cắt giảm một nửa tiền điện

Tận dụng máy móc cũ và linh kiện từ phế liệu, ông Chính cải tiến thành hệ thống động cơ không chổi than, đây là loại động cơ điện một chiều giúp giảm ma sát, tăng hiệu suất và tiết kiệm điện. Hệ thống được tối ưu nhờ bộ điều tốc do ông tự thiết kế, cho phép vận hành “bám tải”, tự điều chỉnh công suất theo nhu cầu thực tế, hạn chế lãng phí năng lượng. Thực tế đo đạc cho thấy, mỗi động cơ chỉ tiêu thụ khoảng 1,2–1,6 kWh, thấp hơn nhiều so với động cơ truyền thống, đặc biệt khi kết hợp hiệu quả với nguồn điện mặt trời.

Tại khu sản xuất của HTX, 52 tấm pin năng lượng mặt trời được lắp đặt để cung cấp điện cho toàn bộ hệ thống. Vào khung giờ nắng tốt, từ 9h đến 14h, hệ thống có thể tạo ra công suất 15–16 kWh. Bộ điều tốc sẽ ưu tiên sử dụng nguồn điện này để vận hành máy móc, chỉ bổ sung điện lưới khi thời tiết bất lợi.

Hiện giải pháp này đang được áp dụng trên 20 ao nuôi của HTX Ninh Phú, hiệu quả mang lại rất rõ rệt. Với mỗi ao nuôi diện tích khoảng 2.000 m², chi phí điện hàng tháng đã giảm từ khoảng 20 triệu đồng xuống còn 10 triệu đồng, tương đương mức tiết kiệm 50%.

Theo ông Lê Minh Chính, hiện giá thành nuôi tôm tại HTX chỉ dao động từ 55.000–60.000 đồng/kg đối với tôm cỡ 100 con/kg. Ngay cả khi nuôi tôm kích cỡ lớn khoảng 30 con/kg, giá thành cũng chỉ ở mức khoảng 80.000 đồng/kg, thấp so với mặt bằng chung hiện nay.

Trong bối cảnh đó, việc cắt giảm được phần lớn chi phí nhiên liệu đã giúp HTX Ninh Phú duy trì biên lợi nhuận ổn định và có khả năng chống chịu tốt trước biến động thị trường.

 

Kết hợp quy trình nuôi khép kín 3 giai đoạn

Hiệu quả của mô hình không chỉ đến từ việc tiết kiệm điện mà còn nhờ sự kết hợp với quy trình nuôi 3 giai đoạn khép kín trên ao lót bạt. Ở giai đoạn đầu, tôm giống được ươm trong bể nhỏ với điều kiện kiểm soát chặt chẽ về môi trường, giúp tỷ lệ sống đạt trên 95%. Sang giai đoạn hai, tôm được chuyển ra ao nuôi tăng trưởng với mật độ cao, nhu cầu oxy lớn, hệ thống quạt nước phải vận hành liên tục. Nhờ nguồn điện mặt trời dồi dào vào ban ngày, HTX có thể duy trì công suất quạt tối đa mà không phát sinh thêm chi phí, giúp tôm khỏe mạnh, hấp thụ thức ăn tốt và giảm rủi ro bệnh do thiếu oxy. Giai đoạn cuối là nuôi thương phẩm, khi hệ thống xi phông tự động hoạt động thường xuyên để loại bỏ chất thải, tảo chết và thay nước, giữ môi trường ao luôn sạch. Quy trình này giúp tôm lớn nhanh, đạt kích cỡ thương phẩm 30 con/kg trong thời gian ngắn, với tỷ lệ thành công toàn vụ đạt 70–80%, cao hơn mặt bằng chung.

Bên cạnh hiệu quả kinh tế, mô hình còn mang lại lợi ích rõ rệt về an toàn lao động và tính bền vững. Do sử dụng điện một chiều điện áp thấp, nguy cơ rò rỉ điện trong môi trường nước mặn gần như được loại bỏ, giúp người lao động yên tâm hơn khi vận hành và bảo trì hệ thống. Thực tế tại HTX cho thấy, những lo ngại về tai nạn điện khi lội ao kiểm tra thiết bị đã không còn, tạo tâm lý làm việc ổn định cho công nhân. Hiệu quả sản xuất cải thiện cũng góp phần nâng cao thu nhập, với mức lương trung bình khoảng 10 triệu đồng/ người/tháng, kèm theo thưởng theo lợi nhuận sau mỗi vụ nuôi. Quan trọng hơn, việc kết hợp động cơ không chổi than với năng lượng mặt trời đã mở ra hướng tiếp cận mới cho ngành nuôi tôm trong bối cảnh yêu cầu giảm chi phí và phát triển xanh ngày càng cấp thiết.

Mô hình của HTX Ninh Phú cho thấy, đổi mới không nhất thiết phải đến từ các khoản đầu tư lớn, mà có thể bắt đầu từ chính việc tối ưu những nguồn lực sẵn có. Từ những linh kiện tưởng chừng bỏ đi, một hệ thống công nghệ hiệu quả đã được hình thành, giúp giảm phụ thuộc vào điện lưới, hạ giá thành sản xuất và tăng khả năng thích ứng với biến động thị trường. Đây là hướng đi thực tiễn, có thể tham khảo và nhân rộng, góp phần xây dựng ngành nuôi tôm theo hướng hiệu quả, an toàn và bền vững hơn trong thời gian tới.

Phạm Huệ (Tổng hợp)