Nuôi tôm thẻ nước ngọt: Bài toán khoáng chất và hiệu quả sản xuất

[Người Nuôi Tôm] – Tôm thẻ chân trắng có khả năng thích nghi với độ mặn thấp, song điều đó không đồng nghĩa môi trường nước ngọt luôn phù hợp để nuôi thương phẩm. Thực tế tại một số vùng nuôi ở Hà Tĩnh cho thấy, khi độ mặn giảm, những vấn đề về cân bằng khoáng, tăng trưởng, tỷ lệ sống và chi phí sản xuất có thể trở thành điểm nghẽn đối với hiệu quả mô hình.

Một hồ nuôi tôm thẻ chân trắng trong nước ngọt ở thôn Nam Sơn (xã Thạch Hà) đang ngưng hoạt động. Nguồn ảnh: Tiến Phúc/Báo Hà Tĩnh

 

Tại xã Đông Kinh, Hà Tĩnh, ông Nguyễn Văn Quân từng chuyển 3 ha đất mặt nước từ mô hình lúa kết hợp vịt và cá sang nuôi tôm thẻ chân trắng. Để cải tạo ao, xử lý phèn, kéo điện và đầu tư hệ thống quạt tạo oxy, ông đã bỏ ra gần 300 triệu đồng. Mỗi năm, ông xuống giống hai vụ, mỗi vụ khoảng 200.000–400.000 con. Tuy nhiên, sau 6 vụ nuôi, chỉ có 2 vụ có lãi, trong khi 4 vụ còn lại thua lỗ, mức lỗ từ khoảng 20 triệu đến 70 triệu đồng/vụ, chưa tính công lao động. Sau nhiều vụ không đạt hiệu quả, ông đã chuyển trở lại nuôi vịt và các loài cá nước ngọt.

Không chỉ riêng trường hợp này, nhiều hộ nuôi tôm thẻ trong nước ngọt tại Hà Tĩnh cũng ghi nhận tình trạng chậm lớn, tỷ lệ còi cọc cao, kéo dài thời gian nuôi và hao hụt giống tới 50–60%. Cỡ tôm thu hoạch tối đa thường chỉ khoảng 60–65 con/kg, trong khi ở môi trường nước mặn lợ có thể đạt 30–40 con/kg.

Theo kỹ sư Nguyễn Kiều Hưng, người có 18 năm kinh nghiệm nuôi tôm thẻ, loài tôm này phát triển tốt nhất trong khoảng độ mặn 5–20‰. Khi nuôi ở môi trường nước ngọt, vấn đề không chỉ nằm ở độ mặn mà còn ở sự thiếu hụt hoặc hàm lượng thấp của nhiều khoáng chất cần thiết cho quá trình sinh trưởng và điều hòa áp suất thẩm thấu.

Các khoáng chất như natri, clorua, magie, canxi và kali đóng vai trò quan trọng đối với cân bằng ion, hoạt động sinh lý, lột xác và tăng trưởng của tôm. Khi nguồn nước tự nhiên không cung cấp đủ, người nuôi phải chủ động bổ sung và duy trì khoáng trong nước. Điều này đồng nghĩa với việc quy trình quản lý trở nên phức tạp hơn, đồng thời phát sinh thêm chi phí.

Vì vậy, cần phân biệt giữa khả năng sống sót ở độ mặn thấp và khả năng tăng trưởng, đạt tỷ lệ sống và hiệu quả kinh tế ổn định. Một ao nuôi có thể duy trì được tôm không có nghĩa điều kiện đó đã tối ưu cho sản xuất thương phẩm. Một chi tiết đáng chú ý tại Hà Tĩnh là một số mô hình từng đạt kết quả khá trong những vụ đầu. Theo nhận định của kỹ sư Nguyễn Kiều Hưng, điều này có thể liên quan đến đặc điểm lịch sử của vùng nuôi. Trước khi công trình Đò Điệm được xây dựng, khu vực này từng chịu ảnh hưởng của nước mặn. Sau khi ngăn mặn, giữ ngọt, trong nền đất vẫn còn một lượng muối nhất định. Tuy nhiên, lượng muối này giảm dần theo thời gian, khiến điều kiện nuôi tôm ngày càng khó khăn.

Ngay cả mô hình nuôi tôm thẻ nước ngọt có quy mô lớn nhất tại địa phương cũng đang phải thu hẹp. Cơ sở của anh Trần Phi Châu từng có diện tích 4 ha, mỗi năm nuôi 2 vụ, mỗi vụ thả 1–1,5 triệu con giống. Hiện diện tích chỉ còn khoảng một nửa, mỗi năm duy trì 1 vụ với khoảng 600.000–800.000 con giống và hiệu quả vẫn bấp bênh.

Câu chuyện tại Hà Tĩnh cho thấy khi đánh giá mô hình tôm thẻ ở độ mặn thấp, người nuôi không nên chỉ quan tâm tôm có thể thích nghi hay không. Các yếu tố như độ mặn, cân bằng khoáng, chất lượng nước, tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng, thời gian nuôi và chi phí quản lý cần được đánh giá đồng thời.

Đặc biệt, một vài vụ đầu có kết quả tốt chưa đủ để khẳng định tính bền vững của mô hình. Với những vùng nước ngọt, việc lựa chọn đối tượng nuôi cần dựa trên điều kiện môi trường thực tế, khả năng kiểm soát chất lượng nước và bài toán hiệu quả dài hạn, thay vì chỉ dựa vào khả năng thích nghi của con tôm.

Hiểu Lam (Tổng hợp)