Đề xuất tháo gỡ chồng chéo hồ sơ, khơi thông dòng nguyên liệu tôm nhập khẩu

[Người Nuôi Tôm] – Tháo gỡ yêu cầu hồ sơ chồng chéo, thống nhất quy trình kiểm tra và mở rộng kiểm tra giảm đối với các lô hàng đủ điều kiện được kỳ vọng giúp nguyên liệu tôm, thủy sản nhập khẩu lưu thông thuận lợi hơn, giảm chi phí cho doanh nghiệp và tạo thêm dư địa cho chuỗi sản xuất, chế biến.

 

Tháo gỡ thủ tục nhập khẩu được kỳ vọng giúp nguyên liệu tôm, thủy sản lưu thông thuận lợi, giảm chi phí cho doanh nghiệp chế biến

 

Gỡ điểm nghẽn từ cửa khẩu

Ngày 09/9, Cục Chăn nuôi và Thú y (Bộ NN&MT) có Công văn số 3486/CNTYKD&TYCĐ gửi Cục Hải quan (Bộ Tài chính) về việc kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm nhập khẩu đối với thực phẩm có nguồn gốc động vật trên cạn và thủy sản.

Động thái này xuất phát từ phản ánh của doanh nghiệp về tình trạng một số lô hàng gặp khó khi làm thủ tục thông quan do phát sinh đồng thời nhiều loại giấy tờ. Trong đó có giấy chứng nhận kiểm dịch nhập khẩu và thông báo kết quả xác nhận thực phẩm đạt yêu cầu nhập khẩu.

Đối với ngành tôm, vấn đề này có ý nghĩa đáng chú ý bởi hoạt động chế biến, xuất khẩu đang gắn với nguồn nguyên liệu từ nhiều thị trường. Tôm nguyên liệu đông lạnh, cùng các loại cá, mực, bạch tuộc và thủy sản khác được nhập khẩu để phục vụ chế biến, tái chế biến và đáp ứng yêu cầu của từng thị trường xuất khẩu.

Khi một lô nguyên liệu bị kéo dài thời gian thông quan, chi phí không chỉ phát sinh tại cửa khẩu mà còn có thể lan sang cả chuỗi sản xuất. Hàng đông lạnh phải chịu thêm chi phí lưu kho, lưu bãi; kế hoạch đưa nguyên liệu vào nhà máy bị chậm, trong khi doanh nghiệp vẫn phải bảo đảm tiến độ các đơn hàng.

Vì vậy, thống nhất ngay từ khâu hồ sơ được xem là một trong những giải pháp thiết thực để giảm chi phí và giữ nhịp cho chuỗi cung ứng tôm, thủy sản.

Theo đề xuất của cơ quan chuyên ngành, đối với các lô hàng sản phẩm động vật trên cạn và sản phẩm thủy sản nhập khẩu làm thực phẩm đã được cấp giấy chứng nhận kiểm dịch theo quy định, doanh nghiệp có thể sử dụng giấy chứng nhận này để thực hiện thủ tục thông quan nếu giấy chứng nhận thể hiện rõ mục đích sử dụng của lô hàng.

Với sản phẩm thủy sản, giấy tờ được đề cập là Giấy chứng nhận kiểm dịch sản phẩm động vật thủy sản nhập khẩu, mẫu 10TS theo quy định chuyên ngành hiện hành.

Việc thống nhất cách sử dụng hồ sơ nhằm hạn chế tình trạng doanh nghiệp phải thực hiện nhiều thủ tục có nội dung quản lý tương đồng cho cùng một lô hàng. Đây cũng là cơ sở để rút ngắn thời gian xử lý, nhất là với nguyên liệu cần bảo quản lạnh.

 

Tăng kiểm tra với nơi có rủi ro

Bên cạnh việc giảm hồ sơ chồng chéo, phương thức kiểm tra cũng được đặt lại theo hướng quản lý rủi ro.

Theo hướng dẫn của cơ quan chuyên ngành, sản phẩm động vật, thủy sản nhập khẩu có thể được xem xét áp dụng kiểm tra giảm nếu được sản xuất tại các cơ sở áp dụng hệ thống quản lý chất lượng và đáp ứng các yêu cầu theo Nghị định 15/2018/ NĐ-CP.

Đây là hướng tiếp cận phù hợp với đặc thù của chuỗi thủy sản, trong đó có tôm. Những cơ sở sản xuất có hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm tốt, lịch sử tuân thủ ổn định có thể được xem xét giảm mức độ kiểm tra, trong khi nguồn lực quản lý được tập trung vào các lô hàng và cơ sở có nguy cơ cao hơn.

Với doanh nghiệp chế biến tôm, lợi ích của cơ chế này không chỉ nằm ở việc giảm một bước thủ tục. Thời gian nguyên liệu nằm tại cửa khẩu được rút ngắn đồng nghĩa với giảm chi phí kho lạnh, hạn chế nguy cơ ảnh hưởng chất lượng sản phẩm và giúp nhà máy chủ động hơn về kế hoạch sản xuất.

Đặc biệt, trong bối cảnh doanh nghiệp phải cạnh tranh về giá và thời gian giao hàng trên thị trường quốc tế, mỗi khoản chi phí phát sinh trong quá trình nhập khẩu đều tác động trực tiếp đến giá thành sản phẩm.

Tuy nhiên, để kiểm tra giảm thực sự đi vào cuộc sống, doanh nghiệp cần được tiếp cận các tiêu chí rõ ràng về điều kiện áp dụng. Cơ quan quản lý cũng được đề nghị xây dựng, cung cấp danh sách các cơ sở sản xuất, tổ chức, cá nhân nhập khẩu đủ điều kiện áp dụng kiểm tra giảm và hướng dẫn thống nhất tiêu chí xác định cơ sở có hệ thống quản lý an toàn thực phẩm.

 

Cần rõ quy định, thống nhất cách làm

Một điểm khác cần được tháo gỡ là yêu cầu về hồ sơ tự công bố sản phẩm.

Theo phản ánh, hồ sơ đăng ký kiểm tra Nhà nước về an toàn thực phẩm nhập khẩu có yêu cầu bản tự công bố sản phẩm. Trong khi đó, một quy định khác lại xác định một số sản phẩm động vật trên cạn và thủy sản đông lạnh chưa qua chế biến, chưa bao gói sẵn không thuộc đối tượng phải tự công bố sản phẩm.

Sự chưa thống nhất này có thể khiến doanh nghiệp nhập khẩu thủy sản phải bổ sung hồ sơ hoặc mất thêm thời gian giải trình. Với nguyên liệu tôm, cá, mực, bạch tuộc đông lạnh chưa qua chế biến, việc xác định chính xác đối tượng áp dụng là cần thiết để tránh phát sinh thủ tục không cần thiết.

Cục Chăn nuôi và Thú y đã đề nghị cơ quan Hải quan xem xét, kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi quy định nhằm bảo đảm thống nhất trong thực hiện.

Ngày 10/9, Cục Hải quan cũng có công văn chỉ đạo các Chi cục Hải quan khu vực căn cứ Công văn số 3486/CNTY-KD&TYCĐ và các văn bản hướng dẫn liên quan để nghiên cứu, thực hiện khi làm thủ tục hải quan đối với từng loại thực phẩm có nguồn gốc động vật trên cạn, động vật thủy sản nhập khẩu.

Việc hai cơ quan cùng rà soát và thống nhất cách thực hiện là bước quan trọng, nhưng cộng đồng doanh nghiệp kỳ vọng những hướng dẫn này tiếp tục được cụ thể hóa tại các khâu thực thi.

 

Khơi thông nguyên liệu, giảm sức ép cho chuỗi tôm

Theo đánh giá của VASEP, việc tháo gỡ các yêu cầu hồ sơ chồng chéo trong kiểm tra thực phẩm nhập khẩu có ý nghĩa đối với ngành thủy sản, khi nhiều doanh nghiệp vẫn cần nhập khẩu nguyên liệu để phục vụ chế biến và xuất khẩu.

Đối với ngành tôm, nguồn nguyên liệu nhập khẩu là một phần trong bài toán cân đối nguyên liệu của doanh nghiệp. Việc nhập khẩu không chỉ nhằm bổ sung sản lượng mà còn đáp ứng yêu cầu về kích cỡ, chủng loại, chất lượng nguyên liệu cho từng sản phẩm và từng thị trường.

Do đó, một lô tôm bị chậm thông quan có thể kéo theo nhiều chi phí khác trong chuỗi. Ngược lại, quy trình thông thoáng, minh bạch sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong kế hoạch nguyên liệu, chế biến và giao hàng.

Từ thực tế này, điều doanh nghiệp cần không đơn thuần là giảm giấy tờ mà là một quy trình thống nhất, rõ đối tượng, rõ hồ sơ và rõ trách nhiệm phối hợp giữa cơ quan chuyên ngành với Hải quan.

Nếu những điểm nghẽn này được xử lý đồng bộ, chi phí nhập khẩu nguyên liệu có thể được kiểm soát tốt hơn, dòng tôm và thủy sản nguyên liệu được lưu thông nhanh hơn. Đây cũng là điều kiện để doanh nghiệp nâng sức cạnh tranh, duy trì đơn hàng và tạo đầu ra ổn định cho toàn chuỗi.

Ở chiều ngược lại, khi doanh nghiệp chế biến giữ được nhịp sản xuất và mở rộng thị trường, nhu cầu nguyên liệu cũng có thêm dư địa tăng lên. Vì vậy, tháo gỡ thủ tục nhập khẩu nguyên liệu không chỉ là câu chuyện của doanh nghiệp tại cửa khẩu, mà còn liên quan trực tiếp đến hiệu quả của cả chuỗi giá trị tôm, thủy sản.

Gia Hưng

Xem thêm:

Giá tôm nhập khẩu vào Mỹ quay đầu sau 6 tháng tăng liên tục

Tôm Việt Nam trước biến động giá và dịch chuyển thị trường nhập khẩu toàn cầu